CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT ĐỘNG CHUYEN GIAO CÔNG NGHỆ TỪ TO CHỨC NGHIÊN CUU DEN DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm công cụ 1. Khai niệm công nghệ Công nghệ gắn liền với chủ nghĩa kỹ trị (Technicism), trong tác phẩm Trách nhiệm công nghệ (Responsible Technology), Monsma, Stephen V. (1986) đã cho rằng thuật ngữ công nghệ cần phải được định nghĩa một cách có hệ thống trên phương diện triết học, kinh tế-xã hội học, chính trị học đề đề cập đến tất cả mọi lĩnh vực tự nhiên, kỹ thuật, xã hội mà công nghệ có thé bao phủ.
[67] Như vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa được coi là hoàn chỉnh, phổ quát về công nghệ vì tùy lĩnh vực mà công nghệ đề cập, tùy hình thức thé hiện của công nghệ, tùy mục dich sử dụng công nghệ. ma đưa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau. Hơn nữa, do trình độ phát triển của công nghệ ma quan niệm về công nghệ có thé khác nhau theo thời gian. Tác giả giới thiệu điểm qua một số quan niệm về công nghệ: - Merrill, R.
(1968) cho rang công nghệ bao gồm các kỹ thuật thực hành, các kỹ năng của con người, kiến thức và trình tự thực hiện chúng vào những việc hữu ích. (1972) cho rằng công nghệ là việc áp dụng hệ thống kiến thức cho công việc thực tế. (1981) cho rằng công nghệ là tập hợp các kiến thức chuyên ngành liên quan đến việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong tổ chức hoạt động kinh tế, bao gồm những kiến thức va kỹ năng cần thiết để quản lý một tập hợp các quy trình kỹ thuật có liên quan đến nhau. Những quan niệm này cho rằng công nghệ như một quy trình, tồn tại ở dạng vô hình, cần lưu ý khi CGCN 15 ở dang này thì không có thiết bị đi kèm, việc CGCN được nhấn mạnh ở khâu đào tạo, chuyên giao kỹ nang.
(1971) quan niệm công nghệ có mỗi quan hệ với khoa học, nên đã định nghĩa công nghệ là việc ứng dụng tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề được xác định rõ. (1976) định nghĩa công nghệ là một tập hợp các kiến thức hoặc kinh nghiệm liên quan đến việc sản xuất một sản phẩm hoặc thực hiện một quy trình. (1981) định nghĩa công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ dang có và tạo ra những hàng hóa và dich vu mới. (1983) quan niệm công nghệ là việc áp dụng các kiến thức khoa học để tô chức công việc trong thực tế của hệ thống có liên quan đến con người và tô chức, sinh vật sống và máy móc.
(2003) quan niệm công nghệ là tập hợp các thông tin cần thiết dé đạt được một kết quả sản xuất nhất định từ một phương tiện đặc biệt được lựa chọn bao gồm các quá trình sản xuất, cơ cấu tô chức nội bộ, kỹ thuật quản lý, phương tiện tài chính, phương pháp tiếp thị hoặc bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng. Công nghệ được hệ thống hóa trong các công thức, đồ án, bản vẽ, bản mô tả sáng chế, thông tin bí mật do con người năm giữ. Những quan niệm vừa nêu cho rằng công nghệ là sản phẩm từ tri thức khoa học, trong đó khoa học được hiéu theo nghĩa rộng bao gom cả khoa học tự nhiên, khoa hoc xã hội và nhân văn (ví dụ: áp dụng các kiến thức khoa học dé tổ chức công việc, quá trình sản xuất, cơ cau tổ chức nội bộ, kỹ thuật quản lý, phương tiện tài chính, phương pháp tiếp thị. Khi CGCN ở dạng này, cần lưu ý có bộ phận hợp thành của công nghệ có thé được chuyên độc quyền và cũng có bộ phận hợp thành của công nghệ không thê được chuyên độc quyền, ví dụ không thê chuyên giao độc quyền cách thức tô chức công việc, quá trình sản xuất, cơ cấu tổ chức nội bộ, kỹ thuật quản lý, phương tiện tài chính, phương pháp tiếp thị.
Mặt khác, xét trên yếu tố trong tập hợp quyền SHTT 16 thì các công nghệ này chỉ thuộc đối tượng của quyền tác giả mà không thể là đối tượng của quyên sở hữu công nghiệp. - Tổ chức ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific) - Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu á và Thái Bình Dương đưa ra định nghĩa “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng dé chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm tat cả các kỹ năng kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, thông tin, dịch vụ công nghiệp và dịch vụ quản lý”. Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ.
[66] - Thống nhất với quan điểm của ESCAP về khái niệm công nghệ Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi năm 2017, theo Điều 2 quy định: Công nghé là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. [23] Có rất nhiều các định nghĩa về công nghệ nhưng cuối cùng cũng có một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ đó là: Công nghệ là tất cả những cái gì dùng để biến đổi dau vào thành dau ra. Chuyển giao công nghệ Trước hết, cần phải thay rang CGCN là chuyên giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ. Trong đó: - Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ (bên chuyền giao là chủ sở hữu công nghệ), khi hợp đồng chuyền giao có hiệu lực pháp luật bên chuyền giao không còn là chủ sở hữu công nghệ; - Chuyên quyền sử dụng công nghệ (bên chuyên giao là chủ sở hữu công nghệ/hoặc là bên có quyền sử dụng công nghệ và được quyên tiếp tục chuyên giao), khi hợp đồng chuyển giao có hiệu lực pháp luật bên chuyển giao vẫn còn là chủ sở hữu công nghệ, hoặc vẫn có quyền sử dụng công nghệ và được/không được quyên tiếp tục chuyền giao.
17 Trong thực tế, việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ ít diễn ra hoặc nếu có diễn ra thì về mặt pháp lý cũng ít phức tạp, từ đây thuật ngữ CGCN được hiểu là chuyển quyền sử dụng công nghệ. Trên thị trường CGCN dang ton tại các cụm từ “mua máy móc”, “mua dây chuyên công nghệ”, “mua công nghệ”. Vậy bản chất của việc “mua máy moc” khác biệt gì với việc “mua day chuyển công nghệ”, “mua công nghệ ”? Theo quan điểm tổng quát: Chuyên giao công nghệ là việc đưa kiến thức kỹ thuật ra khỏi nơi đã sản sinh ra nó. [66] Theo Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi năm 2017 của Việt Nam: Chuyên giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phan hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền Chuyén giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.
[23] Theo quy ước của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế thì “Chuyên giao công nghệ là nhận và chuyển công nghệ (kết quả nghiên cứu ứng dụng) qua biên giới”.[ 66] Có thé thay CGCN là quá trình đưa công nghệ từ môi trường này sang môi trường khác bằng các hình thức khác nhau để sản xuất ra hàng hóa, thực hiện dịch vụ hoặc cho các mục đích khác. Trong định nghĩa trên đây, cần phân tích sâu hơn: - Môi trường: có thé từ khu vực nghiên cứu và triển khai (R&D) sang khu vực sản xuất, từ các nước phát triển sang các nước đang/chậm phát triển, từ chủ sở hữu sang bên có nhu cầu, từ bên có quyền sử dụng công nghệ sang bên có nhu cầu - Sản xuất ra hàng hóa, như đã phân tích ở trên về thuật ngữ hàng hóa, trong mục này cần lưu ý thêm hàng hóa phải được áp dụng công nghệ được chuyên giao. Vai trò của chuyển giao công nghệ CGCN gắn liền với công nghệ, do vậy, vai trò của CGCN cũng lớn như vai trò của công nghệ mang lại cho kinh tế - xã hội. Ngoài ra nó còn có thêm một số yếu tố đáng lưu ý khác như sau: $ Đối với bên bán công nghệ Nhà cung cấp công nghệ thường ở những nước phát triển, nên việc CGCN cho công ty ở nước đang phát triển sẽ thu được cả lợi ích hữu hình và vô hình: - Tạo danh tiếng: Do bên cung cấp đã có công nghệ tạo ra sản phẩm mang tên nhà cung cấp; vi thế việc CGCN cho bên nước ngoài là dé tạo ra sản phẩm thành công ở nước nhận; - Buộc bên tiếp nhận phụ thuộc vào mình do cung cấp những sản phẩm kèm theo hoặc các dịch vụ hỗ tro; - Tăng thu nhập từ việc bán công nghệ gấp nhiều lần từ những giá trị vô hình như sở hữu trí tuệ.
- Phát triển thị trường mới với chỉ phí và rủi ro thấp. Hoặc thông qua bên tiếp nhận đề tiếp cận những thị trường có tính bảo hộ cao. $ Đối với bên mua công nghệ - Tăng cường năng lực công nghệ; - Tăng thêm lợi nhuận từ việc cải thiện chất lượng sản phẩm, phát trién sản phẩm, tạo thêm dong sản pham do sản xuất từ công nghệ mới; - Nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng, giá thành sản phẩm; - Không tốn kém thời gian, chỉ phí và rủi ro trong nghiên cứu chế tạo công nghệ mới; - Chiếm lĩnh và phát triển thị trường nội địa, thiết lập quan hệ với đối tác nước ngoài và thị trường nước ngoài; - Giảm tác động xâu đên môi trường. 19 * Đối với Chính phủ nước nhận công nghệ: + Việc CGCN từ nước ngoài đã tạo ra việc làm có chất lượng cao, tăng thêm nguồn thu từ thuế; + Nhập khẩu công nghệ là để khắc phục tình trạng lạc hậu về công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm; + Mở rộng sản xuất do tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương; + Cải thiện trình độ của lao động địa phương, từ đó tạo môi trường tốt cho đầu tư nước ngoài; + Việc CGCN còn giúp các nước đang phát triển chuyển dich cơ cau kinh tế vùng và lãnh thé.
Dịch vụ chuyển giao công nghệ Dịch vụ CGCN (Technology Transfer Services) là một thuật ngữ dùng dé chỉ các hoạt động liên quan đến môi giới CGCN, tư van CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN. Có thé thay dich vụ CGCN là một hoạt động kinh tế tăng thêm giá trị vào hàng hóa công nghệ, trực tiếp vào hoạt động CGCN trong việc kết nối bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ.