Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê tại tỉnh Thanh Hóa tính đến tháng 6 năm 2016, toàn tỉnh có gần 8.400 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó 97% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) với hơn 60% có quy mô vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng. Mặc dù số lượng doanh nghiệp của Thanh Hóa đứng thứ hai khu vực Bắc Trung Bộ và chiếm 1,58% tổng số doanh nghiệp cả nước, tiềm lực công nghệ của khối doanh nghiệp này còn rất khiêm tốn. Cụ thể, 62% công nghệ của các doanh nghiệp thuộc nhóm trung bình và lạc hậu, 89,5% doanh nghiệp chưa từng thực hiện đầu tư nâng cao năng lực khoa học và công nghệ, và chỉ có 7% đơn vị tiến hành đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là tìm kiếm mô hình và giải pháp phát triển thị trường chuyển giao công nghệ cho khối DNVVN thông qua việc phát huy vai trò của các tổ chức trung gian. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm đánh giá toàn diện cấu trúc thị trường chuyển giao công nghệ tại địa phương, xác định các rào cản cản trở sự tham gia của doanh nghiệp, và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế trung gian trong giai đoạn 2010–2016, định hướng đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc gia tăng tỷ lệ ký kết hợp đồng công nghệ, tối ưu hóa chi phí giao dịch, đồng thời thúc đẩy chỉ số đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh cho hơn 8.000 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình bốn thành phần công nghệ của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (UNESCAP), bao gồm: Kỹ thuật (Technoware - thiết bị máy móc), Con người (Humanware - kinh nghiệm và kỹ năng), Thông tin (Infoware - dữ liệu và tài liệu kỹ thuật), và Tổ chức (Orgaware - hoạt động quản lý, vận hành kết nối). Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết thất bại thị trường và lý thuyết chi phí giao dịch của David J. Teece (1981) cùng quan điểm thể chế thị trường công nghệ của Barry Bozeman (2000) nhằm lý giải các thuộc tính đặc thù của hàng hóa công nghệ. Ba khái niệm cốt lõi được xây dựng gồm: (1) Công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 (Luật số 29/2013/QH13) – giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật biến đổi nguồn lực thành sản phẩm; (2) Chuyển giao công nghệ theo Luật Chuyển giao Công nghệ năm 2017 (Luật số 07/2017/QH14) – việc chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ; (3) Thị trường chuyển giao công nghệ – không gian giao dịch nơi diễn ra các quan hệ cung, cầu và dịch vụ xúc tác cho loại hàng hóa vô hình đặc thù có tính bất cân xứng thông tin cao và rủi ro thương mại lớn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp luật, báo cáo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ, cùng số liệu của 51 tổ chức khoa học công nghệ và 14 doanh nghiệp khoa học công nghệ tại Thanh Hóa giai đoạn 2010–2016. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát mẫu gồm 50 DNVVN hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến và nông nghiệp (trong đó 36% là doanh nghiệp tư nhân và 64% là cơ sở sản xuất nhà nước). Phương pháp chọn mẫu theo hạn ngạch kết hợp ngẫu nhiên phân tầng được lựa chọn nhằm phản ánh sát cơ cấu ngành nghề địa phương: 26% chế biến thực phẩm - nông sản, 16% vật liệu xây dựng, 16% cơ khí, 16% phần mềm - linh kiện điện tử, 12% phân bón - hóa chất và 14% ngành hàng tiêu dùng khác. Dữ liệu khảo sát được phân tích qua bảng hỏi 3 phần trên phần mềm Excel bằng các công cụ thống kê mô tả, phân tích tần số và so sánh chéo, kết hợp kỹ thuật phỏng vấn sâu với các chuyên gia quản lý khoa học nhằm làm rõ thực trạng hoạt động của mạng lưới trung gian.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng thị trường chuyển giao công nghệ tại Thanh Hóa bộc lộ rõ sự chênh lệch lớn giữa cung và cầu. Thứ nhất, cơ cấu hình thức chuyển giao còn sơ khai khi có tới 66% giao dịch được thực hiện qua hình thức tư vấn, cải tiến kỹ thuật, 24% qua hợp đồng chuyển giao công nghệ trực tiếp, trong khi các phương thức giá trị cao như liên doanh, đặt hàng nghiên cứu hay hợp tác chuyên gia quốc tế chỉ chiếm vỏn vẹn 2% mỗi loại. Thứ hai, năng lực tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế khi chỉ số kỹ thuật chung (T) toàn tỉnh chỉ đạt 0,538, trong đó ngành dệt may cao nhất đạt 0,750, chế biến nông sản đạt 0,651 nhưng thương mại chỉ đạt 0,448; chỉ 15% dây chuyền đạt mức tự động hóa và 2,6% được máy tính hóa. Thứ ba, sự tồn tại của khoảng cách lớn giữa nhu cầu và hành động thực tế: 100% (50/50) doanh nghiệp được khảo sát bày tỏ mong muốn đổi mới công nghệ, nhưng trong giai đoạn 2010–2016 chỉ có 32% (16/50) doanh nghiệp từng ký kết hợp đồng công nghệ chính thức. Thứ tư, vai trò của các tổ chức trung gian bị mờ nhạt nghiêm trọng khi có tới 82% doanh nghiệp phải tự tìm kiếm nhà cung ứng, 58% tiếp cận qua bạn hàng cùng ngành, 45% qua cơ quan nhà nước, trong khi tỷ lệ tiếp cận thông qua mạng lưới trung gian chuyên nghiệp chỉ đạt 3%.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh tình trạng đứt gãy giữa các thành tố của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ tính bất cân xứng thông tin và chi phí giao dịch quá cao trên thị trường. Dù Thanh Hóa sở hữu 51 tổ chức khoa học công nghệ và 14 doanh nghiệp khoa học công nghệ (xếp thứ 3 toàn quốc), nguồn cung công nghệ vẫn chưa đáp ứng đúng nhu cầu thực tế của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng (chiếm 60%). So với các nghiên cứu tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc của Nguyễn Đức Kiên hay Phan Tuấn Anh, hiện trạng ở Thanh Hóa cho thấy các tổ chức trung gian chủ yếu tập trung vào thủ tục sở hữu trí tuệ hành chính mà thiếu hoàn toàn dịch vụ định giá, thẩm định công nghệ và môi giới thương mại. Mô hình dữ liệu có thể được hình dung trực quan qua biểu đồ cơ cấu tiếp cận công nghệ, trong đó kênh trung gian chỉ là lát cắt mỏng 3%, đối lập hoàn toàn với biểu đồ cột 100% nhu cầu đổi mới. Điều này khẳng định nếu không củng cố năng lực trung gian, thị trường sẽ tiếp tục vận hành tự phát, làm gia tăng rủi ro cho bên mua và giảm động lực sáng tạo của bên bán.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện thị trường chuyển giao công nghệ cho DNVVN đến năm 2020, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Thành lập Trung tâm Giao dịch Công nghệ và Sàn giao dịch Techmart ảo cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa chủ trì phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng nền tảng số hóa dữ liệu cung - cầu, mục tiêu gia tăng tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận qua kênh trung gian từ mức 3% lên ít nhất 25% vào cuối năm 2020.
  • Tái cơ cấu và nâng cấp năng lực cho 28 tổ chức dịch vụ khoa học công nghệ hiện hữu: Sở Khoa học và Công nghệ triển khai chương trình đào tạo chuyên sâu về định giá công nghệ, thẩm định kỹ thuật và đàm phán hợp đồng cho 100% đội ngũ môi giới viên trước quý IV năm 2019, giúp giảm 30% chi phí giao dịch cho các DNVVN.
  • Thực thi gói hỗ trợ tài chính và quỹ tín dụng ưu đãi công nghệ: Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và Sở Tài chính thiết lập cơ chế bảo lãnh vay vốn đổi mới công nghệ, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ từ 32% lên 55% trong giai đoạn 2018–2020 đối với các ngành mũi nhọn có chỉ số T trên 0,650.
  • Hoàn thiện khung pháp lý địa phương và cơ chế bảo hộ sở hữu công nghiệp: Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy chế khuyến khích liên kết viện - trường - doanh nghiệp, nâng tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký sở hữu trí tuệ từ 7% lên 20% và nhân rộng số lượng doanh nghiệp khoa học công nghệ lên trên 30 đơn vị vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư): Sử dụng các căn cứ lý luận và số liệu thực tiễn để hoạch định chính sách phát triển thị trường công nghệ, xây dựng đề án hỗ trợ DNVVN và hoàn thiện mạng lưới tổ chức trung gian cấp tỉnh.
  2. Ban lãnh đạo các DNVVN sản xuất và chế biến: Vận dụng khung phân tích 4 thành phần công nghệ để tự đánh giá chỉ số kỹ thuật nội bộ, nhận diện các kênh tiếp cận công nghệ uy tín và tối ưu hóa quy trình ký kết hợp đồng chuyển giao nhằm tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí đầu tư.
  3. Các tổ chức trung gian, viện nghiên cứu và trường đại học: Khai thác mô hình kết nối cung - cầu để thiết kế các gói dịch vụ định giá, môi giới thương mại hóa kết quả nghiên cứu phù hợp với năng lực tài chính dưới 5 tỷ đồng của doanh nghiệp địa phương.
  4. Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị Công nghệ: Tham khảo phương pháp luận kết hợp phân tích định lượng chỉ số kỹ thuật và phương pháp điều tra khảo sát thực địa trong nghiên cứu kinh tế công nghệ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao DNVVN tại Thanh Hóa có nhu cầu đổi mới công nghệ 100% nhưng tỷ lệ ký kết hợp đồng chỉ đạt 32%?
Rào cản lớn nhất nằm ở năng lực tài chính eo hẹp khi 60% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng, kết hợp tình trạng thiếu thông tin minh bạch về bên cung. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc định giá và thẩm định kỹ thuật, dẫn đến tâm lý e ngại rủi ro thất bại khi ký kết hợp đồng công nghệ chính thức.

2. Mô hình UNESCAP đánh giá năng lực công nghệ doanh nghiệp qua những yếu tố nào?
Mô hình UNESCAP gồm 4 thành phần: Kỹ thuật (Technoware - máy móc, tự động hóa), Con người (Humanware - tay nghề, tri thức), Thông tin (Infoware - tài liệu, thông số thiết kế), và Tổ chức (Orgaware - quản lý điều hành). Việc đánh giá đồng bộ 4 thành tố này giúp xác định chỉ số kỹ thuật T trung bình của doanh nghiệp sản xuất đạt khoảng 0,538.

3. Vai trò mấu chốt của tổ chức trung gian trên thị trường chuyển giao công nghệ là gì?
Tổ chức trung gian đóng vai trò cầu nối giải quyết bất cân xứng thông tin, thực hiện định giá độc lập, giám định công nghệ và hỗ trợ pháp lý trong đàm phán hợp đồng. Nhờ đó, chi phí giao dịch được giảm thiểu đáng kể, giúp tăng tỷ lệ tiếp cận công nghệ thành công thay vì mức 3% tự phát như hiện nay.

4. Hình thức chuyển giao công nghệ nào đang chiếm ưu thế tại các địa phương hiện nay?
Hình thức phổ biến nhất là tư vấn và cải tiến kỹ thuật, chiếm 66% tổng số giao dịch khảo sát. Ngược lại, các hình thức chuyển giao chuyên sâu như liên doanh công nghệ cao, đặt hàng nghiên cứu từ viện trường hoặc mời chuyên gia quốc tế mới chỉ đạt tỷ lệ rất thấp, khoảng 2% cho mỗi hình thức.

5. Cần điều kiện pháp lý gì để hợp đồng chuyển giao công nghệ có hiệu lực pháp lý?
Theo Luật Chuyển giao Công nghệ năm 2017 (Luật số 07/2017/QH14), giao dịch phải lập thành văn bản hợp đồng với đầy đủ điều khoản về đối tượng chuyển giao, quyền sở hữu, giá thanh toán, bảo hành kỹ thuật và phương thức giải quyết tranh chấp, tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và an toàn.

Kết luận

  • Đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cấu trúc thị trường chuyển giao công nghệ và các thuộc tính đặc thù của hàng hóa khoa học kỹ thuật.
  • Phân tích thực trạng chuyển giao công nghệ tại Thanh Hóa với 62% công nghệ trung bình, làm rõ sự đứt gãy giữa 100% nhu cầu và 32% tỷ lệ thực hiện hợp đồng.
  • Đánh giá vai trò của 51 tổ chức khoa học công nghệ và 14 doanh nghiệp khoa học công nghệ, chỉ rõ mắt xích yếu kém của mạng lưới trung gian khi chỉ đáp ứng 3% kết nối.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực thẩm định, sàn giao dịch công nghệ và hỗ trợ tài chính cho DNVVN đến năm 2020.
  • Xác lập lộ trình hành động giai đoạn 2018–2020 với các mốc kiểm soát chất lượng dịch vụ trung gian và nâng cao chỉ số kỹ thuật ngành.

Luận văn đóng góp khung phân tích thực tiễn sắc bén, là tài liệu không thể thiếu cho các nhà quản lý và doanh nghiệp. Hãy liên hệ ngay với tác giả hoặc cơ sở đào tạo để nhận trọn bộ tài liệu nghiên cứu và triển khai ứng dụng vào thực tế quản trị công nghệ!