Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong linh vực bưu chính viễn thông Chương 2: Thực trạng chính sách Công nghệ và năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel. Chương 3: Chính sách công nghệ theo nhu cầu kéo để nâng cao năng lực cạnh tranh tại tổng công ty cổ phần bưu chính Viettel. Ơ SỞ UẬN VỀ H NH S H NG NGH VÀ NĂNG ẠNH TR NH Ủ NH NGHI TR NG NH V ƯU H NH VIỄN TH NG 1. Khái niệm ch nh sách Theo Vũ Cao Đàm (2011) “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.
Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường. Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi nh ng hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân”. Như vậy, phân tích khái niệm “chính sách” thì thấy: - Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; - Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; - Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng T các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến nh ng yếu tố sau đây: Chính sách là tập hợp nh ng biện ph p mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành nh ng quy định có gi trị ph p ý, 14 z nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi.
Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt i xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng k ch th ch ng c ho t ng của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra. Chính sách luôn t o ra m t b t bình ẳng xã h i, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm nh ng bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn nh ng nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội).
Toàn bộ nh ng biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý. Như vậy, tổng hợp t trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa: Ch nh s ch à m t tập hợp biện ph p ược thể ch ho , mà m t ch thể qu ền c, hoặc ch thể quản ý ưa ra, trong ó t o s ưu ãi m t hoặc m t s nhóm xã h i, k ch th ch vào ng c ho t ng c a họ, ịnh hướng ho t ng c a họ nh m th c hiện m t mục tiêu ưu tiên nào ó trong chi n ược ph t triển c a m t hệ th ng xã h i” [Vũ Cao Đàm; 2011]. Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo nh ng khía cạnh như sau: Chính sách là một tập hợp biện ph p. Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội.
15 z Chính sách là một tập hợp biện pháp ược thể ch ho dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học,. Chính sách phải t c ng vào ng c hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào m t mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội.
Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia. Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải ph p ứng phó trong m t cu c ch i. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy nh ng mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau. Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm kh c phục m t ut b t ồng b nào ó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xu t hiện những u t b t ồng b mới.
Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra nh ng bước phát triển hệ thống, từ những b t ồng b nà tới những b t ồng b khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển. Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra nh ng bi n ổi xã h i phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra. Khái niệm “Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó.
16 z Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ có thể một vài cách tiếp cận trong đó. T nh ng phân tích trên đây, Luận văn sử dụng định nghĩa Ch nh s ch à m t tập hợp biện ph p ược thể ch ho , mà m t ch thể qu ền c, hoặc ch thể quản ý ưa ra, trong ó t o s ưu ãi m t hoặc m t s nhóm xã h i, k ch th ch vào ng c ho t ng c a họ, ịnh hướng ho t ng c a họ nh m th c hiện m t mục tiêu ưu tiên nào ó trong chi n ược ph t triển c a m t hệ th ng xã h i. Khái niệm ch nh sách c ng nghệ Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO): "Ch nh s ch H&CN à tập hợp c c biện ph p ập ph p và hành ph p ược th c hiện ể nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm c H&CN với mục tiêu t ược mục ch qu c gia" [UNESCO; 2010]. Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không nh ng chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN.
Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là nh ng phương châm, điều lệ, qui định. Đó là nh ng nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN. Luận văn xin đưa ra định nghĩa về chính sách KH&CN như sau: Ch nh s ch H&CN à tập hợp c c biện ph p ược thể ch hóa th ng qua vật mang ch nh s ch à c c v n bản qu ph m ph p uật, do c quan qu ền c nhà nước hoặc c quan hành ch nh nhà nước ban hành nh m th c hiện mục tiêu về H&CN trong chi n ược ph t triển kinh t - xã h i. Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trong định nghĩa trên bao gồm: Quốc hội và HĐND các cấp.
Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trong 17 z định nghĩa trên bao gồm: Chính phủ và UBND các cấp. Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo nh ng khía cạnh: Chính sách KH&CN là một tập hợp biện ph p về KH&CN. Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp ược thể ch ho dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN. Chính sách KH&CN phải t c ng vào ng c hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN.
Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế - xã hội nói chung.