Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của xã hội trong thế kỷ XXI. Khí thải từ giao thông, hoạt động sản xuất công nghiệp, cháy rừng và các nhà máy nhiệt điện là nguyên nhân gây ra cái chết của khoảng 7 triệu người mỗi năm trên toàn cầu. Dự báo đến năm 2050, hàng triệu người tại khu vực Châu Á, Trung Đông và Châu Phi đối mặt với nguy cơ tử vong sớm do ô nhiễm không khí và nguồn nước.

Tại Việt Nam, báo cáo của tổ chức phi chính phủ Germanwatch (Đức) chỉ ra rằng Việt Nam nằm trong nhóm sáu quốc gia chịu thiệt hại nặng nề nhất thế giới do biến đổi khí hậu trong 20 năm qua. Hàng năm, ô nhiễm môi trường tác động đến sức khỏe cộng đồng, trong đó có khoảng 50.000 trường hợp tử vong do ô nhiễm không khí; thiệt hại kinh tế ước tính từ 10,82 đến 16,63 tỷ USD (tương đương 240.000 tỷ đồng), chiếm 4,45% đến 5,64% GDP cả nước. Số liệu từ tổ chức Airvisual (tháng 9/2019) ghi nhận chỉ số chất lượng không khí (AQI) tại Hà Nội thường xuyên vượt ngưỡng 200; nồng độ bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh dao động từ 28 đến trên 50,5 µg/m³, vượt chuẩn khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từ hai đến ba lần. Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2018 cũng phản ánh tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng tại nhiều lưu vực sông (điển hình như lưu vực sông Nhuệ - Đáy), với chỉ số tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và độ đục vượt Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2 và B1).

Trước thực trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và gia tăng chất thải công nghiệp (CO2, CO, SO2, NOx, rác thải nhựa), Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định ban hành năm 2016). Chương trình đặt mục tiêu chuyển đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, tăng cường sử dụng nguyên vật liệu thân thiện môi trường và duy trì tính bền vững trong toàn bộ chuỗi vòng đời sản phẩm.

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình học thuật tại Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung vào hành vi tiêu dùng xanh của cá nhân, hoạt động mua sắm công xanh (Green Public Procurement - GPP), hoặc các khía cạnh chung về quản lý chuỗi cung ứng xanh và logistics ngược. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và kiểm định định lượng về hoạt động mua sắm xanh (MSX) các yếu tố đầu vào tại các doanh nghiệp (DN) sản xuất Việt Nam. Do đó, luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống lý luận và thực tiễn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam; xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng; từ đó đề xuất các giải pháp đối với doanh nghiệp và khuyến nghị chính sách đối với cơ quan quản lý nhằm thúc đẩy hoạt động này.

Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và xây dựng khung lý thuyết về hoạt động mua sắm xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp.
  2. Hoàn thiện thang đo hoạt động mua sắm xanh và thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp.
  3. Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tới hoạt động mua sắm xanh.
  4. Đánh giá thực trạng hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam và kiểm định sự khác biệt về hoạt động này theo các đặc điểm doanh nghiệp.
  5. Đưa ra một số đề xuất cho doanh nghiệp và hàm ý chính sách cho các cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu chính:

  1. Nội hàm của hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là gì? Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam? Nhân tố nào có ảnh hưởng tích cực, nhân tố nào có ảnh hưởng tiêu cực? Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó như thế nào?
  2. Mức độ tham gia của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam vào hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào hiện nay như thế nào? Có sự khác biệt về hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào theo đặc điểm của doanh nghiệp hay không?
  3. Những giải pháp nào có thể thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động mua sắm xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung và yếu tố đầu vào: Luận án tập trung vào hai nhóm yếu tố đầu vào vật chất: (1) các nguyên liệu, vật liệu chính phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất kinh doanh; (2) các nguyên liệu, vật liệu phụ (chất phụ gia, vật liệu bao bì, túi đóng gói, thùng carton).
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp sản xuất được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam (theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014), bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Các doanh nghiệp khảo sát tập trung vào các ngành sản xuất phổ biến: dệt may, da giày, sản xuất giấy và sản xuất linh kiện điện tử tại một số tỉnh, thành phố lớn.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu phản ánh giai đoạn 2017 – 2020; hoạt động điều tra, khảo sát thực địa được tiến hành trong năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về hoạt động mua sắm và mua sắm xanh

Tổng quan lịch sử nghiên cứu về hoạt động mua sắm của doanh nghiệp được phân kỳ qua 5 giai đoạn phát triển:

  • Giai đoạn trước năm 1945: Nghiên cứu của Charles Babbage (1832) trong cuốn sách Nền kinh tế của máy móc và sản xuất; thực tiễn thành lập bộ phận cung ứng tại Công ty đường sắt Pennsylvania (1866); các ấn phẩm chuyên khảo của Comptroller & Northwestern (1887), Cuốn sách về mua sắm (1905); các công trình của Redtmann (1910), Nicklisch (1912), Findeisen (1924), Sandig (1935), Lewis (1932, 1933, 1935, 1936) và Fearon (1968) đặt nền móng cho việc phân định mua sắm chủ động - bị động và phân tích thị trường đầu vào.
  • Giai đoạn 1946 đến thập niên 1960: Lewis (1946), Beste (1956), Grochla (1956), Bergqvist (1958), Sundhoff (cuối thập niên 1950) và Mellerowicz (đầu thập niên 1960) nghiên cứu việc đánh giá hiệu quả mua sắm qua thẻ điểm cân bằng, tính toán chi phí và xây dựng quan hệ với nhà cung cấp quốc tế.
  • Giai đoạn cuối thập niên 1960 đến thập niên 1980: Ammer (1968, 1969) nghiên cứu quản trị nguyên vật liệu và vai trò trung tâm lợi nhuận của bộ phận mua sắm; sự xuất hiện của hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII); mô hình chuỗi giá trị của Porter (1985); hệ thống sản xuất Just-in-Time (JIT) và Quản trị chất lượng toàn diện (TQM) của Wildemann (1990), Akacum và Dale (1995).
  • Giai đoạn từ giữa thập niên 1990 đến nay: Monczka và cộng sự (1998), Zsidisin và Siferd (2000), cùng nghiên cứu của Glas và Kleemann (2016) về mua sắm trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0 (Mua sắm 4.0).

Về hoạt động mua sắm xanh, các nghiên cứu quốc tế tập trung phân loại và xác định nội dung thực hành:

  • Lamming và Hanson (1996) xác định 5 chiến lược mua xanh tại Vương quốc Anh (bảng hỏi nhà cung cấp, hệ thống quản lý môi trường EMS, đánh giá vòng đời sản phẩm, quản lý sản phẩm, quan hệ hợp tác).
  • Zsidisin và Hendrick (1998) chỉ ra 5 nội dung thực hành (thông số kỹ thuật môi trường, chứng nhận ISO 14001, hợp tác môi trường, kiểm toán nội bộ và kiểm toán nhà cung cấp).
  • Bowen và cộng sự (2006) phân loại thành 3 nhóm: cung ứng xanh dựa trên sản phẩm, xanh hóa quy trình cung ứng và cung ứng xanh tiên tiến.
  • Hamner (2006) tổng hợp 8 hoạt động mua sắm xanh cơ bản (yêu cầu nội dung sản phẩm, giới hạn chất độc hại như chì, CFCs, dán nhãn sinh thái, bảng hỏi môi trường, EMS, kiểm tra tuân thủ, giáo dục và hợp tác).
  • Hosogai và cộng sự (2008) phân tích chương trình mua xanh tại Tập đoàn Fujitsu (Nhật Bản) qua các giai đoạn EMS.
  • Blome và cộng sự (2013) chia hoạt động mua sắm xanh thành 3 nhóm: điều chỉnh nhu cầu sản phẩm xanh, lựa chọn nhà cung cấp đạt chuẩn môi trường và hợp tác cải thiện hiệu suất môi trường.

Về các nhân tố ảnh hưởng đến mua sắm xanh:

  • Green và cộng sự (1996) tại Anh chỉ ra động lực tuân thủ pháp luật và cắt giảm chi phí.
  • Min và Galle (1997, 2001) khảo sát các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Quản lý Mua hàng Quốc gia Hoa Kỳ (NAPM), khẳng định áp lực pháp lý và quy mô mua sắm tác động thuận chiều, trong khi chi phí đầu tư và sự thiếu cam kết của lãnh đạo là rào cản chính.
  • Carter và Carter (1998), Carter và cộng sự (1998) so sánh doanh nghiệp tại Đức và Hoa Kỳ, nhấn mạnh vai trò của quản lý cấp trung và liên kết dọc trong chuỗi cung ứng.
  • Carter và Jennings (2004) nghiên cứu 1.000 doanh nghiệp thuộc Viện Quản lý Cung ứng Hoa Kỳ (ISM), mở rộng khái niệm Mua sắm có trách nhiệm xã hội (Purchasing Social Responsibility - PSR).
  • Tarig Khidir ElTayeb và cộng sự (2009) khảo sát 569 doanh nghiệp đạt chứng nhận EMS 14001 tại Malaysia; Yu-Xiang Yen và Shang-Yung Yen (2011) khảo sát 239 doanh nghiệp công nghệ tại Đài Loan, xác định tác động của cam kết lãnh đạo và áp lực khách hàng.
  • Nghiên cứu tại Kenya của nhóm giảng viên Đại học Karatina (2015) và Langat Evans Kipkori & Daniel M. Wanyoike (2015) tại huyện Kericho chỉ ra rào cản về tài chính và sự sẵn có của nguyên liệu.
  • Shen và cộng sự (2016) nghiên cứu ngành bất động sản Trung Quốc; Wong và cộng sự (2016) nghiên cứu ngành xây dựng Hồng Kông; Bohari và cộng sự (2017) khảo sát tại Malaysia; Yook và cộng sự (2017) khảo sát 239 doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản, phân tích vai trò của năng lực động (dynamic capabilities) và năng lực vận hành (operational capabilities).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan bao gồm:

  • Hướng hành vi tiêu dùng xanh của cá nhân: Nghiên cứu tại siêu thị Big C Huế (2013), Phạm Thị Lan Hương (2014), Hoàng Thị Bảo Thoa (2016).
  • Hướng mua sắm công xanh: Lưu Quốc Đạt (2015), Hồ Công Hòa và cộng sự (2018).
  • Hướng chuỗi cung ứng xanh và logistics: Vũ Anh Dũng và Vũ Hồng Nhung (2015), Nguyễn Bình Minh (2016), Nguyễn Thị Yến (2016) trong ngành thủy sản; Dương Văn Bảy và cộng sự (2017) khảo sát 479 doanh nghiệp hàng tiêu dùng nhanh; Nguyễn Thành Hiếu và cộng sự (2017); Lưu Quốc Đạt và cộng sự (2017) ứng dụng mô hình phân tích thứ bậc (AHP) kết hợp TOPSIS để xếp hạng nhà cung cấp xanh tại Công ty TNHH Canon Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu của luận án

Các nghiên cứu quốc tế trước đây chủ yếu xem xét các nhân tố thúc đẩy hoặc rào cản một cách riêng lẻ, thực hiện chủ yếu tại các nền kinh tế phát triển hoặc các thị trường có cấu trúc thể chế khác biệt (Đài Loan, Malaysia, Trung Quốc). Tại Việt Nam, chưa có công trình nào tích hợp đồng thời cả ba nhóm nhân tố: nhân tố môi trường bên ngoài, nhân tố nội tại bên trong doanh nghiệp, và biến trung gian trách nhiệm xã hội (CSR) trong việc giải thích hành vi mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất. Luận án được thiết kế để giải quyết khoảng trống này thông qua mô hình nghiên cứu thực chứng tại thị trường Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên ba lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết thể chế (Institutional Theory): Dựa trên luận điểm của North (1995), Hirsch (1975), Lai và cộng sự (2009), Jennings và Zandbergen (1995), Rivera (2004), Clemens và Douglas (2006). Lý thuyết thể chế giải thích cách thức các quy định môi trường của nhà nước, áp lực từ khách hàng và áp lực bắt chước đối thủ cạnh tranh (Aerts và cộng sự, 2006; Christmann và Taylor, 2001) định hình các chuẩn mực quản lý môi trường và thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện mua sắm xanh.
  2. Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV): Dựa trên nghiên cứu của Barney (1991, 2001). Lý thuyết RBV tiếp cận các yếu tố nội tại của doanh nghiệp thông qua tiêu chuẩn VRIN (Valuable - Giá trị, Rare - Hiếm, Inimitable - Khó bắt chước, Non-substitutable - Không thể thay thế), giải thích vai trò của cam kết ban lãnh đạo, nguồn nhân lực, năng lực tài chính và lợi ích kinh tế kỳ vọng trong việc tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững từ hoạt động mua sắm xanh.
  3. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Dựa trên Freeman (1984), Donaldson và Preston (1995), Fineman và Clarke (1996). Lý thuyết giải thích việc doanh nghiệp đáp ứng kỳ vọng của các nhóm liên quan (cơ quan chính phủ, khách hàng, cộng đồng, đối tác) thông qua việc thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) và tích hợp các tiêu chí bảo vệ môi trường vào quy trình thu mua nguyên vật liệu.

Về khái niệm trách nhiệm xã hội, luận án vận dụng mô hình Kim tự tháp CSR của Carroll (1979, 1991) gồm 4 tầng: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện, đồng thời tiếp cận CSR theo nghĩa rộng (Trần Hoàng Hải, 2016) bao gồm cả những hoạt động tự nguyện vì cộng đồng và môi trường. Hoạt động mua sắm gắn với CSR được kết nối qua khái niệm mua sắm có trách nhiệm xã hội (PSR) của Salam (2007) và Carter và Jennings (2002, 2004).

Nhóm biến Tên nhân tố trong mô hình Bản chất và nội dung đo lường
Nhân tố bên ngoài Quy định môi trường Mức độ kiểm soát, hướng dẫn và chế tài pháp lý về môi trường từ chính phủ
Áp lực từ phía khách hàng Yêu cầu và tiêu chuẩn xanh từ khách hàng nội địa và đối tác quốc tế
Áp lực cạnh tranh Mức độ cạnh tranh và xu hướng áp dụng sáng kiến xanh của các đối thủ
Nhân tố bên trong Rào cản từ nhà cung cấp Sự khan hiếm nguyên liệu xanh, thiếu thông tin kỹ thuật từ nhà cung cấp
Cam kết của ban lãnh đạo Nhận thức, định hướng chiến lược và sự ủng hộ của cấp quản lý cao nhất
Lợi ích kỳ vọng Kỳ vọng về tiết kiệm chi phí xử lý chất thải, nâng cao năng suất, hình ảnh
Rào cản về chi phí Chi phí đầu tư ban đầu, giá mua nguyên vật liệu thân thiện môi trường cao
Rào cản về nhân lực Thiếu hụt nhân sự có kỹ năng và hiểu biết chuyên sâu về mua sắm xanh
Biến trung gian Trách nhiệm xã hội (CSR) Mức độ thực hiện các nghĩa vụ kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện của DN
Biến phụ thuộc Mua sắm xanh đầu vào Mức độ áp dụng tiêu chí môi trường khi mua nguyên vật liệu chính và phụ
Biến kiểm soát Đặc điểm doanh nghiệp Quy mô lao động/vốn, loại hình sở hữu, thị trường tiêu thụ chính

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Thực hiện thông qua phỏng vấn sâu các chuyên gia, gồm các giám đốc, phó giám đốc doanh nghiệp và trưởng/phó phòng mua hàng tại các doanh nghiệp sản xuất. Kết quả phỏng vấn sâu được sử dụng để hiệu chỉnh thang đo sơ bộ (thang đo lần 1) thành thang đo chính thức (thang đo lần 2), bảo đảm tính phù hợp với bối cảnh thực tế tại Việt Nam; kết hợp phương pháp nghiên cứu tình huống (case study).
  • Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Khảo sát thử nghiệm để đánh giá sơ bộ độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
  • Nghiên cứu định lượng chính thức:
    • Thu thập dữ liệu thông qua bảng hỏi khảo sát gửi tới cán bộ quản lý và phụ trách mua hàng tại các doanh nghiệp sản xuất thuộc 4 nhóm ngành: dệt may, da giày, sản xuất giấy và sản xuất linh kiện điện tử trong năm 2019.
    • Quy trình phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS và AMOS: Thống kê mô tả đặc điểm mẫu; kiểm định Cronbach's Alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA); phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm định độ phù hợp mô hình (Chi-square/df, CFI, GFI, TLI, RMSEA), độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai rút trích (AVE), giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM lần 1 và lần 2); kiểm định Bootstrap nhằm đánh giá độ vững của các ước lượng; phân tích tác động của biến kiểm soát và kiểm định sự khác biệt bằng ANOVA/T-test.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về quản trị mua sắm và mua sắm xanh theo trình tự thời gian và mức độ tiếp cận từ tổng quát đến chi tiết. Tác giả phân tích 5 giai đoạn tiến triển của lý thuyết mua sắm, làm rõ sự dịch chuyển từ vai trò nghiệp vụ thụ động sang chức năng chiến lược gắn với chuỗi cung ứng. Chương này tổng kết các mô hình mua sắm xanh tiêu biểu trên thế giới (Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia, Kenya), đối chiếu với các nghiên cứu hiện có tại Việt Nam trong các mảng tiêu dùng xanh cá nhân, mua sắm công xanh và chuỗi cung ứng xanh. Từ đó, tác giả chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn đối với hoạt động mua sắm xanh yếu tố đầu vào tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Chương 2 làm rõ các khái niệm cốt lõi: yếu tố đầu vào của doanh nghiệp (phân biệt giữa nguyên vật liệu chính và nguyên phụ liệu đóng gói), khái niệm mua sắm xanh, phân biệt giữa thuật ngữ "purchasing" và "procurement". Tác giả trình bày vai trò của mua sắm xanh trên ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường; phân tích lịch sử phát triển chính sách mua sắm xanh quốc tế (Đạo luật RCRA 1976 và lệnh hành pháp năm 1993 của Mỹ; chính sách mua sắm công xanh tại Đức, Đan Mạch, Pháp; Luật thúc đẩy mua sắm xanh năm 2001 tại Nhật Bản; chính sách dán nhãn môi trường tại Hàn Quốc từ năm 1992; chính sách kinh tế tuần hoàn tại Trung Quốc năm 2006).

Chương 2 luận giải sâu ba lý thuyết nền tảng (Lý thuyết thể chế, Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực RBV, Lý thuyết các bên liên quan) và mô hình Kim tự tháp CSR của Carroll. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu lý thuyết gồm 9 nhân tố tác động (quy định môi trường, áp lực khách hàng, áp lực cạnh tranh, rào cản nhà cung cấp, cam kết ban lãnh đạo, trách nhiệm xã hội, lợi ích kỳ vọng, rào cản chi phí, rào cản nhân lực) cùng các biến kiểm soát đặc điểm doanh nghiệp.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu gồm các bước tổ chức thực hiện, xây dựng thang đo và thiết kế công cụ thu thập dữ liệu. Thang đo lần 1 được hình thành từ tổng quan tài liệu, sau đó trải qua nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu chuyên gia) để điều chỉnh thành thang đo lần 2. Tác giả trình bày kết quả kiểm định thang đo sơ bộ, quy trình chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu doanh nghiệp sản xuất tại các ngành dệt may, da giày, giấy, điện tử. Chương này thiết lập mô hình nghiên cứu chính thức và xác định các kỹ thuật phân tích thống kê: kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, EFA, CFA (đánh giá giá trị hội tụ, giá trị phân biệt, tương quan khái niệm), phân tích mô hình SEM, ước lượng Bootstrap và kiểm định giả thuyết về sự khác biệt theo đặc điểm doanh nghiệp.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 phản ánh bối cảnh thực thi chính sách mua sắm xanh và vai trò quản lý của nhà nước tại Việt Nam, đồng thời trình bày các kết quả phân tích định lượng từ mẫu khảo sát:

  • Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu và thông tin người trả lời khảo sát.
  • Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích EFA lần 2 cho các thang đo.
  • Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA: xác nhận các chỉ số đo lường độ phù hợp mô hình, độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai rút trích (AVE) và giá trị phân biệt đạt yêu cầu thống kê.
  • Kết quả phân tích mô hình SEM (lần 1 và lần 2) và kiểm định ước lượng Bootstrap, qua đó xác nhận các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận ở mức ý nghĩa 95%.
  • Đánh giá thực trạng hoạt động mua sắm xanh và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố: xác định 7 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp (trong đó áp lực khách hàng và quy định môi trường có tác động tích cực mạnh nhất; rào cản nhà cung cấp và rào cản chi phí có tác động tiêu cực trực tiếp); xác định 4 nhân tố tác động gián tiếp tích cực qua biến trung gian CSR.
  • Phân tích sự khác biệt trong hoạt động mua sắm xanh theo quy mô doanh nghiệp, loại hình sở hữu và thị trường hoạt động.

Chương 5: Đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới

Chương 5 tổng kết các kết quả nghiên cứu chính, chỉ rõ những đóng góp về mặt lý thuyết và ý nghĩa thực tiễn của luận án. Dựa trên bằng chứng định lượng, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  1. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp: Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý môi trường (EMS) và đạt chứng nhận ISO 14001; thiết lập liên kết dọc chặt chẽ giữa nhà cung cấp - nhà sản xuất - nhà phân phối - khách hàng; nâng cao nhận thức, cam kết của ban lãnh đạo đối với CSR và mua sắm xanh; mở rộng hệ thống nhận diện, dán nhãn sinh thái cho sản phẩm xanh.
  2. Nhóm kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện khung khổ pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật về mua sắm xanh; ban hành chính sách ưu đãi tài chính, hỗ trợ thuế và tín dụng cho doanh nghiệp mua sắm đầu vào xanh; triển khai các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức người tiêu dùng nhằm thúc đẩy lối sống xanh. Cuối chương, tác giả trình bày các hạn chế của nghiên cứu và gợi ý các hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

Luận án mang lại ba đóng góp lý luận:

  1. Xác định các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp: Luận án chứng minh thực nghiệm mô hình gồm 7 nhân tố tác động trực tiếp đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam (gồm 3 nhân tố bên ngoài và 4 nhân tố nội tại). Trong đó, hai nhân tố bên ngoài có tác động tích cực và mạnh nhất là áp lực từ phía khách hàng và các quy định môi trường; hai nhân tố có tác động trực tiếp ngược chiều (rào cản) là rào cản từ phía nhà cung cấp và rào cản về chi phí.
  2. Làm rõ cơ chế tác động gián tiếp qua trách nhiệm xã hội: Kết quả nghiên cứu chỉ ra 4 nhân tố có ảnh hưởng gián tiếp và tích cực đến hoạt động mua sắm xanh thông qua biến trung gian trách nhiệm xã hội (CSR) của doanh nghiệp, bao gồm: áp lực khách hàng, các quy định môi trường, áp lực cạnh tranh và cam kết của ban lãnh đạo. Phát hiện này củng cố giá trị giải thích của Lý thuyết thể chế và Lý thuyết các bên liên quan trong bối cảnh các sáng kiến môi trường tại nền kinh tế mới nổi.
  3. Xác thực sự khác biệt theo đặc điểm doanh nghiệp: Nghiên cứu kiểm định và chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ thực hiện mua sắm xanh theo đặc tính doanh nghiệp:
    • Theo loại hình sở hữu: Doanh nghiệp FDI thực hiện mua sắm xanh cao nhất, tiếp đến là doanh nghiệp tư nhân, và thấp nhất là nhóm doanh nghiệp nhà nước.
    • Theo thị trường: Doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu thực hiện mua sắm xanh nhiều hơn các doanh nghiệp chỉ phục vụ thị trường nội địa.
    • Theo quy mô: Doanh nghiệp quy mô lớn tham gia mua sắm xanh nhiều hơn so với các doanh nghiệp quy mô vừa, nhỏ hoặc siêu nhỏ.

Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Đối với doanh nghiệp: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để các nhà quản lý nhìn nhận mua sắm xanh như một công cụ chiến lược giúp nâng cao năng suất, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu chi phí xử lý vi phạm môi trường và cải thiện thương hiệu. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo chuẩn ISO 14001, tăng cường hợp tác kỹ thuật với các nhà cung cấp nguyên vật liệu xanh, và thể hiện cam kết của ban lãnh đạo thông qua các chính sách mua sắm bền vững.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ công tác hoạch định chính sách. Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống quy chuẩn môi trường đồng bộ; xây dựng các cơ chế khuyến khích kinh tế (ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất, tài trợ công nghệ sạch); đồng thời đẩy mạnh giáo dục nhận thức cộng đồng nhằm tạo áp lực thị trường từ phía người tiêu dùng đối với sản phẩm thân thiện môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

Văn bản luận án tự xác định một số giới hạn trong quá trình triển khai:

  • Về phạm vi ngành và không gian: Khảo sát tập trung chủ yếu vào nhóm doanh nghiệp sản xuất thuộc 4 ngành công nghiệp phổ biến (dệt may, da giày, sản xuất giấy, linh kiện điện tử) tại một số tỉnh, thành phố lớn, chưa bao quát toàn bộ các phân ngành sản xuất và các địa bàn kinh tế khác trên cả nước.
  • Về phạm vi yếu tố đầu vào: Luận án mới giới hạn ở nhóm nguyên vật liệu chính và nguyên phụ liệu phục vụ đóng gói, chưa mở rộng sang các yếu tố đầu vào phi vật chất hoặc tài sản cố định phức tạp như công nghệ, dây chuyền máy móc và nguồn năng lượng.
  • Về mặt thời gian: Dữ liệu điều tra cắt ngang được thu thập trong năm 2019 (giai đoạn nghiên cứu 2017 – 2020), do đó chưa phản ánh được các biến động dài hạn theo chuỗi thời gian của hành vi doanh nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác, cũng như khu vực thương mại và dịch vụ.
  • Mở rộng địa bàn khảo sát trên phạm vi toàn quốc để nâng cao tính đại diện của mẫu nghiên cứu.
  • Nghiên cứu sâu hơn về mua sắm xanh đối với các yếu tố đầu vào công nghệ sạch, trang thiết bị tiết kiệm năng lượng và năng lượng tái tạo.
  • Áp dụng phương pháp nghiên cứu theo chuỗi thời gian (longitudinal study) để theo dõi sự thay đổi trong mức độ tham gia mua sắm xanh của doanh nghiệp qua các giai đoạn chuyển đổi chính sách kinh tế.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu hỗn hợp trong quản trị kinh doanh và chuỗi cung ứng; cung cấp quy trình hoàn thiện thang đo 2 bước, cách thức kết hợp ba lý thuyết nền tảng (Thể chế, Nguồn lực RBV, Các bên liên quan) và quy trình xử lý dữ liệu định lượng phức tạp bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM kết hợp kiểm định Bootstrap trên phần mềm SPSS/AMOS.
  • Đối với nhà quản lý doanh nghiệp sản xuất: Cung cấp khung đánh giá thực tế về 7 nhân tố trực tiếp và các rào cản nội tại (chi phí, nhân lực, nguồn cung), giúp các nhà quản trị mua hàng và ban lãnh đạo định hình chiến lược lựa chọn nhà cung cấp, phân bổ ngân sách và chuẩn hóa quy trình thu mua theo tiêu chuẩn ISO 14001.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, các ban quản lý KCN): Cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về phản ứng của doanh nghiệp trước các quy định môi trường, làm căn cứ thiết kế các chính sách ưu đãi tài chính, hoàn thiện hệ thống nhãn sinh thái và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Những nhân tố nào có tác động trực tiếp và mạnh nhất đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam?

Theo kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM trong luận án, có 7 nhân tố tác động trực tiếp đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào. Trong đó, hai nhân tố thuộc môi trường bên ngoài có tác động tích cực và mạnh nhất là áp lực từ phía khách hàng và các quy định môi trường. Ngược lại, hai nhân tố tạo ra rào cản trực tiếp và tác động ngược chiều là rào cản từ phía nhà cung cấp (sự khan hiếm, thiếu thông tin) và rào cản về chi phí (giá mua nguyên vật liệu xanh cao).

2. Trách nhiệm xã hội (CSR) đóng vai trò gì trong mô hình nghiên cứu của luận án?

Trách nhiệm xã hội (CSR) của doanh nghiệp đóng vai trò là biến trung gian. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng 4 nhân tố gồm: áp lực từ phía khách hàng, các quy định môi trường, áp lực cạnh tranh và cam kết của ban lãnh đạo có tác động tích cực gián tiếp đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào thông qua việc nâng cao mức độ thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

3. Hoạt động mua sắm xanh có sự khác biệt như thế nào theo đặc điểm của doanh nghiệp?

Kết quả kiểm định cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê:

  • Về loại hình: Doanh nghiệp FDI thực hiện mua sắm xanh nhiều nhất, tiếp theo là doanh nghiệp tư nhân và thấp nhất là doanh nghiệp nhà nước.
  • Về thị trường: Doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu tham gia mua sắm xanh nhiều hơn doanh nghiệp chỉ tiêu thụ nội địa.
  • Về quy mô: Doanh nghiệp quy mô lớn thực hiện mua sắm xanh ở mức độ cao hơn doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.

4. Phạm vi các yếu tố đầu vào được phân tích trong luận án bao gồm những loại nào?

Luận án giới hạn phạm vi yếu tố đầu vào ở hai nhóm vật chất cụ thể: (1) các nguyên liệu, vật liệu chính tham gia trực tiếp vào quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; (2) các nguyên liệu, vật liệu phụ phục vụ quá trình sản xuất và đóng gói như chất phụ gia, bao bì, túi nhựa và thùng carton.

5. Luận án đã sử dụng những công cụ và kỹ thuật định lượng nào để kiểm định mô hình?

Luận án sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để thực hiện các kỹ thuật phân tích: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để đánh giá độ phù hợp mô hình, độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai rút trích (AVE), giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM qua 2 lần phân tích) và kiểm định ước lượng Bootstrap.


Kết luận

Luận án "Hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam" đã giải quyết toàn diện các mục tiêu nghiên cứu thông qua việc kết hợp cơ sở lý thuyết thể chế, quản trị dựa trên nguồn lực và các bên liên quan với phương pháp nghiên cứu hỗn hợp. Công trình xác định rõ hệ thống 7 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, 4 nhân tố tác động gián tiếp qua biến trung gian trách nhiệm xã hội, đồng thời chứng minh sự khác biệt trong thực hành mua sắm xanh theo quy mô, loại hình sở hữu và thị trường của doanh nghiệp. Các phát hiện thực chứng và hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án cung cấp cơ sở khoa học có giá trị cho chiến lược quản trị chuỗi cung ứng bền vững của doanh nghiệp cũng như công tác hoàn thiện thể chế của các cơ quan quản lý nhà nước tại Việt Nam.