Khám Phá Hoạt Động Mua Sắm Xanh và Yếu Tố Đầu Vào Doanh Nghiệp Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Luận án hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

235
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

2. Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu

2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2. Câu hỏi nghiên cứu

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

5. Những đóng góp mới của luận án

5.1. Ý nghĩa về lý luận

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

6. Kết cấu của luận án

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu về hoạt động mua sắm của doanh nghiệp

1.2. Nghiên cứu về hoạt động mua sắm xanh của doanh nghiệp

1.3. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động mua sắm xanh của doanh nghiệp

1.4. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA SẮM XANH CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CỦA DOANH NGHIỆP

2.1. Lý luận chung về hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

2.1.1. Khái niệm về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

2.1.2. Khái niệm về mua sắm và mua sắm xanh trong doanh nghiệp

2.1.3. Vai trò của hoạt động mua sắm xanh đối với các doanh nghiệp

2.1.4. Lịch sử phát triển hoạt động mua sắm xanh

2.2. Lý thuyết nền tảng giải thích hoạt động mua sắm xanh của doanh nghiệp

2.2.1. Lý thuyết thể chế (Institutional theory)

2.2.2. Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực (Resource based view)

2.2.3. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)

2.3. Nội dung hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

2.3.1. Quy trình mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

2.3.2. Các nguyên tắc để thực hiện hoạt động mua sắm xanh

2.3.3. Các hoạt động mua sắm xanh cơ bản

2.4. Một số quan điểm về các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động mua sắm xanh của doanh nghiệp

2.4.1. Các nhân tố thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện hoạt động mua sắm xanh

2.4.2. Các rào cản đối với doanh nghiệp thực hiện hoạt động mua sắm xanh

2.5. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp và giả thuyết nghiên cứu trong luận án

2.5.1. Các quy định môi trường

2.5.2. Áp lực từ phía khách hàng

2.5.3. Áp lực cạnh tranh

2.5.4. Rào cản từ phía nhà cung cấp

2.5.5. Trách nhiệm xã hội (CSR) của doanh nghiệp

2.5.6. Cam kết của ban lãnh đạo

2.5.7. Lợi ích kỳ vọng

2.5.8. Rào cản về chi phí

2.5.9. Rào cản về nhân lực

2.5.10. Các biến kiểm soát

3. CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.1.1. Tổ chức nghiên cứu

3.1.2. Quy trình nghiên cứu

3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.2.1. Mô hình nghiên cứu

3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu

3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu

3.3.1. Nghiên cứu định tính

3.3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.3.3. Nghiên cứu định lượng chính thức

3.3.3.1. Xây dựng thang đo lần 1 và thang đo lần 2
3.3.3.2. Thang đo hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
3.3.3.3. Thang đo các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
3.3.3.4. Thang đo đặc điểm doanh nghiệp (biến kiểm soát)
3.3.3.5. Thiết kế bảng hỏi
3.3.3.6. Chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu nghiên cứu

3.4. Chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu nghiên cứu

3.4.1. Chọn điểm nghiên cứu

3.4.2. Chọn mẫu nghiên cứu

3.5. Kiểm định thang đo sơ bộ

3.5.1. Kết quả kiểm định thang đo

3.5.2. Kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo

3.6. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu chính thức

3.7. Nghiên cứu chính thức

3.7.1. Mẫu và phương pháp chọn mẫu

3.7.2. Phương pháp khảo sát và thu thập số liệu

3.7.3. Đối tượng khảo sát

4. CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Bối cảnh chung về hoạt động mua sắm xanh và vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh tại Việt Nam

4.2. Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu

4.3. Đánh giá độ tin cậy của thang đo

4.4. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.5. Phân tích nhân tố khẳng định CFA

4.6. Kiểm định sự phù hợp của mô hình

4.6.1. Đánh giá độ tin cậy thang đo

4.6.2. Kiểm định độ phù hợp của mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

4.7. Kiểm định độ phù hợp của mô hình lý thuyết

4.8. Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết

4.9. Thực trạng hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp Việt Nam

4.10. Mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam

4.10.1. Các quy định môi trường

4.10.2. Áp lực từ phía khách hàng

4.10.3. Áp lực cạnh tranh

4.10.4. Rào cản từ phía nhà cung cấp

4.10.5. Cam kết của ban lãnh đạo

4.10.6. Trách nhiệm xã hội của DN

4.10.7. Lợi ích kỳ vọng

4.10.8. Rào cản về chi phí

4.10.9. Rào cản về nhân lực

4.11. Sự khác biệt về mua sắm xanh các yếu tố đầu vào theo đặc điểm của doanh nghiệp

5. CHƢƠNG 5: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG MUA SẮM XANH CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

5.2. Kết quả và đóng góp chính của nghiên cứu

5.2.1. Đóng góp về mặt lý thuyết

5.2.2. Ý nghĩa thực tiễn

5.3. Hàm ý và đề xuất giải pháp đối với các doanh nghiệp để thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào

5.3.1. Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý môi trường và đăng ký chứng nhận quản lý môi trường ISO 14001

5.3.2. Tăng cường liên kết giữa các nhà cung cấp – nhà sản xuất – nhà phân phối – khách hàng

5.3.3. Nâng cao nhận thức và cam kết của ban lãnh đạo đối với hoạt động trách nhiệm xã hội và hoạt động mua sắm xanh

5.4. Hàm ý và đề xuất giải pháp đối với các cơ quan quản lý để thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

5.4.1. Hoàn thiện khung chính sách, thể chế hỗ trợ và hướng dẫn toàn diện, hiệu quả về việc thực hiện mua sắm xanh

5.4.2. Thay đổi hành vi tiêu dùng, xây dựng lối sống xanh, thân thiện với môi trường

5.5. Hạn chế của luận án và hƣớng nghiên cứu tiếp theo

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Mua sắm xanh

Mua sắm xanh, hay mua sắm bền vững, là một khái niệm quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi mà doanh nghiệp xanh đang trở thành xu hướng toàn cầu. Mua sắm xanh không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn sản phẩm mà còn liên quan đến việc xem xét tác động môi trường của các sản phẩm và dịch vụ được mua. Điều này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam, nơi mà tính bền vững đang ngày càng được chú trọng. Theo nghiên cứu, việc áp dụng tiêu chí mua sắm xanh có thể giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí và nâng cao hình ảnh thương hiệu. Một nghiên cứu cho thấy rằng, 70% người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm cho sản phẩm thân thiện với môi trường. Điều này cho thấy rằng mua sắm xanh không chỉ là một lựa chọn mà còn là một yêu cầu từ thị trường.

1.1. Khái niệm và vai trò của Mua sắm xanh

Khái niệm mua sắm xanh được định nghĩa là quá trình lựa chọn sản phẩm và dịch vụ có tác động tích cực đến môi trường. Bền vững trong kinh doanh không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Chiến lược mua sắm này giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro về môi trường và tăng cường sự cạnh tranh. Theo lý thuyết thể chế, các doanh nghiệp cần phải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với các quy định và tiêu chuẩn môi trường. Việc áp dụng tiêu chuẩn xanh trong mua sắm không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ quy định mà còn tạo ra giá trị lâu dài cho cả doanh nghiệp và xã hội.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Mua sắm xanh

Hoạt động mua sắm xanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố này có thể được chia thành hai nhóm chính: yếu tố bên trong và bên ngoài. Yếu tố bên trong bao gồm cam kết của ban lãnh đạo, trách nhiệm xã hội (CSR)chi phí bền vững. Yếu tố bên ngoài bao gồm áp lực từ phía khách hàng, áp lực cạnh tranhcác quy định môi trường. Nghiên cứu cho thấy rằng, áp lực từ phía khách hàng có thể thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện mua sắm xanh. Hơn nữa, trách nhiệm xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chiến lược mua sắm của doanh nghiệp.

2.1. Yếu tố bên trong

Yếu tố bên trong như cam kết của ban lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến quyết định thực hiện mua sắm xanh. Nếu ban lãnh đạo có tính bền vững trong tầm nhìn chiến lược, doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong việc áp dụng các tiêu chí mua sắm xanh. Hơn nữa, trách nhiệm xã hội (CSR) cũng là một yếu tố quan trọng. Doanh nghiệp có trách nhiệm với cộng đồng và môi trường sẽ có xu hướng lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao hình ảnh mà còn tạo ra giá trị cho xã hội.

III. Thực trạng hoạt động Mua sắm xanh tại Việt Nam

Tại Việt Nam, hoạt động mua sắm xanh đang trong giai đoạn phát triển. Mặc dù có nhiều chính sách khuyến khích, nhưng thực tế cho thấy rằng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chú trọng đến mua sắm bền vững. Theo một khảo sát, chỉ có 30% doanh nghiệp thực hiện mua sắm xanh một cách thường xuyên. Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí bền vững cao và thiếu thông tin về các sản phẩm thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức được lợi ích của mua sắm xanh và đang dần thay đổi chiến lược của mình.

3.1. Những thách thức trong Mua sắm xanh

Một trong những thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam trong việc thực hiện mua sắm xanhchi phí bền vững. Nhiều doanh nghiệp cho rằng việc chuyển đổi sang supply chain xanh sẽ làm tăng chi phí sản xuất. Hơn nữa, thiếu thông tin và kiến thức về sản phẩm thân thiện với môi trường cũng là một rào cản lớn. Do đó, cần có các chương trình đào tạo và hỗ trợ từ chính phủ để giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về lợi ích của mua sắm xanh.

IV. Giải pháp thúc đẩy hoạt động Mua sắm xanh

Để thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh, cần có sự phối hợp giữa các bên liên quan. Chính phủ cần hoàn thiện khung chính sách hỗ trợ và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện mua sắm xanh. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần nâng cao nhận thức và cam kết của ban lãnh đạo đối với trách nhiệm xã hộimua sắm xanh. Việc tăng cường liên kết giữa các nhà cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng cũng rất quan trọng. Một nghiên cứu cho thấy rằng, việc hợp tác giữa các bên có thể giúp giảm chi phí và tăng cường hiệu quả trong mua sắm xanh.

4.1. Đề xuất chính sách

Chính phủ cần xây dựng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện mua sắm xanh. Các chính sách này có thể bao gồm việc giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện mua sắm bền vững hoặc cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các dự án xanh. Hơn nữa, cần có các chương trình đào tạo để nâng cao nhận thức về mua sắm xanh cho doanh nghiệp. Việc thay đổi hành vi tiêu dùng và xây dựng lối sống xanh cũng cần được chú trọng để tạo ra một môi trường thuận lợi cho mua sắm xanh phát triển.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Đánh giá kết quả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động mua sắm xanh các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới 9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở chương này, tác giả tiếp cận tổng quan tình hình các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam theo hướng từ chung đến riêng (từ các nghiên cứu về hoạt động mua sắm đến hoạt động MSX của DN và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động MSX). Đồng thời, tác giả cũng tiếp cận các nghiên cứu về hoạt động mua sắm và MSX của DN theo thời gian (từ khởi thủy các công trình nghiên cứu đầu tiên cho đến các công trình mới được công bố). Nghiên cứu về hoạt động mua sắm của doanh nghiệp Hoạt động mua sắm của DN được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX và mô tả thông qua các thuật ngữ là “buying”, “procurement” hoặc “purchasing”.

Tổng hợp lại, có năm giai đoạn nghiên cứu về hoạt động mua sắm của DN như sau: Giai đoạn 1 (trước 1945, bao gồm chiến tranh thế giới lần thứ II): Trước những năm 1900, hoạt động mua sắm chưa nhận được nhiều sự chú ý. Hầu hết các nghiên cứu bằng tiếng Đức vào đầu thế kỷ XX đều liên quan đến các vấn đề pháp lý của hoạt động mua, thảo luận về cách tổ chức quy trình đặt hàng và bộ phận mua hàng, cùng những đặc điểm cần thiết của DN mua sắm thành công (Kaufmann, 2002). Năm 1910, Redtmann tuyên bố “Sẽ là sai lầm lớn nếu bỏ qua những lợi ích đáng kể của việc tổ chức một bộ phận mua hàng tốt. Kinh nghiệm cho thấy điều này tác động tiêu cực đến sự thành công của một tổ chức.

Các DN có kinh nghiệm sẽ thành lập bộ phận mua hàng trong công ty”. Sau đó, Nicklisch là nhà nghiên cứu đầu tiên sử dụng thuật ngữ quản lý mua và cung ứng vào năm 1912 và cung cấp một danh sách đầy đủ các bước trong quy trình mua sắm. Đến năm 1924, Findeisen đã đưa ra khái niệm hoàn chỉnh đầu tiên về quản lý cung ứng. Ông đã phân tích sự khác biệt giữa hoạt động mua bị động và mua chủ động, đồng thời chỉ ra tầm quan trọng của các khía cạnh khu vực trong việc tổ chức các hoạt động mua sắm trong DN.

Trong các bài báo của tạp chí học thuật “Die Betriebswirtschaft” năm 1935, Sandig là nhà nghiên cứu đầu tiên phân chia các nhiệm vụ mua sắm thành các nhiệm vụ nội bộ của công ty và các nhiệm vụ định hướng thị trường cung ứng. Do đó, ông đã phát triển cách tiếp cận mới đối với hoạt động mua, đó là phân tích thị trường đầu vào. Sandig đã mở rộng định nghĩa mua cho các đối tượng như nhân sự, tài sản và vốn. 10 Nghiên cứu của Fearon (1968) đã chỉ ra trong cuốn sách “Nền kinh tế của máy móc và sản xuất” của Charles Babbage xuất bản năm 1832, mua sắm được mô tả là một chức năng quan trọng trong DN.

Ông cũng viết rằng vào năm 1866, công ty đường sắt Pennsylvania đã thiết lập bộ phận mua hàng dưới tên gọi là bộ phận cung ứng, và cuốn sách đầu tiên về chức năng mua sắm được viết bởi công ty Comptroller (Chicago) và công ty đường sắt Northwestern. Sách được xuất bản năm 1887 và có tên gọi “Xử lý vật tư đường sắt – Mua sắm và thanh lý”. Cuốn sách thứ hai về chủ đề này được xuất bản năm 1905, mang tên “Cuốn sách về mua sắm”, đã mô tả những hướng dẫn cơ bản và đưa ra bằng chứng về các hình thức và quy trình mua sắm được sử dụng trong các ngành công nghiệp khác nhau. Đáng chú ý nhất trong giai đoạn này là hai bài báo của Lewis đăng trên tạp chí Harvard Business Review vào năm 1932 và 1936, cùng hai cuốn sách của ông năm 1933 và 1935, ông cho rằng mua sắm có vai trò tích cực trong việc phản ánh doanh số bán hàng và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đo lường hiệu quả mua sắm.

Trong giai đoạn này, việc mua sắm thường được cho là không quan trọng với DN. Giai đoạn 2 (từ năm 1946 đến những năm 1960s): Sự kết thúc của Thế chiến II và cuộc cải cách tiền tệ khiến nhu cầu tìm NCC của các DN trên thế giới tăng cao. Khi phần lớn nền kinh tế trong nước bị phá hủy, các công ty trong nhiều trường hợp đã phải bắt đầu các hoạt động mua bán quốc tế. Vào cuối những năm 1950, Sundhoff là người đầu tiên tách biệt các hoạt động mua sắm hàng ngày ngắn hạn và các chính sách mua sắm dài hạn.

Beste đã có một phân tích chuyên sâu về cách tính toán các quyết định mua sắm từ góc độ kế toán chi phí vào năm 1956, cùng năm khi Grochla nhấn mạnh tầm quan trọng của cấu trúc tổ chức theo định hướng thị trường cung ứng đối với việc mua sắm. Đầu những năm 1960, Mellerowicz đã chỉ ra ba vấn đề thực tế quan trọng của việc mua sắm, đó là: thứ nhất, sự tham gia của việc mua sắm trong các quyết định mua hoặc bán trong toàn DN; thứ hai, cần phải chủ động định hình mối quan hệ với các NCC và thứ ba, cần phải xử lý rủi ro cụ thể khi giao dịch với các NCC quốc tế. Năm 1946, Lewis đã tuyên bố rằng mua sắm có một vị trí cực kỳ chiến lược trong DN. Ông cũng chứng minh làm thế nào chức năng mua có thể đóng góp cho việc phân tích giá trị của một DN.

Năm 1958, Bergqvist đã phát triển các biện pháp để đánh giá hiệu quả của việc mua sắm, trong đó có sử dụng thẻ điểm cân bằng trong khi mua. Thời gian sau chiến tranh là thời kỳ tăng trưởng chưa từng có trong thế giới phương Tây. 11 Trong giai đoạn này, hoạt động mua sắm bị mất đi sự công nhận có được trong những năm chiến tranh vì các chức năng khác trở nên quan trọng hơn (ví dụ: việc làm hài lòng khách hàng hay quản lý tài chính là ưu tiên hàng đầu của các DN trong thời điểm đó). Giai đoạn 3 (từ năm cuối 1960s đến 1980s): Dấu mốc quan trọng trong giai đoạn này là cuốn sách “Quản trị nguyên vật liệu” của tác giả Ammer.

Ông không chỉ đưa ra những vai trò đặc trưng của hoạt động mua sắm trong quản lý nguyên vật liệu mà còn có những khái niệm về sự phát triển của NCC, hàm ý về sự tham gia sớm của các NCC trong giai đoạn phát triển sản phẩm và quy trình (Ammer, 1968). Ammer cũng là người đầu tiên chỉ ra khả năng vận hành chức năng mua sắm là trung tâm lợi nhuận của DN vào cuối những năm 1960 (Ammer, 1969). Trong thập niên 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP – Material Requirements Planning) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII – Manufacturing Resource Planning) được phát triển. Những hệ thống này cho phép các DN nhận thấy được tầm quan trọng của quản trị NVL.

Họ có thể đánh giá được mức độ tồn kho trong sản xuất, lưu giữ và vận chuyển. Chức năng mua sắm dần được công nhận khi các công ty thực hiện quản lý NVL thiết lập một bộ phận chịu trách nhiệm cho tất cả các quyết định liên quan đến việc xử lý NVL sản xuất (ví dụ: mua sắm, kiểm soát hàng tổn kho, giao nhận và lưu kho). Khái niệm quản lý NVL phần lớn phổ biến trong những năm đầu 1980s bởi các cách tiếp cận về hoạt động logistics và các chiến lược tìm nguồn cung ứng khác nhau. Cuối những năm 1980, các công ty bắt đầu tập trung nỗ lực thực hiện những hoạt động mà họ làm tốt nhất, hay nói cách khác là tập trung vào năng lực cốt lõi.

Hầu hết các công ty thu hẹp hoạt động của mình và thuê ngoài những hoạt động khác trong chuỗi giá trị (Porter, 1985). Điều này dẫn đến việc phân chia lao động và tái cấu trúc trong các ngành công nghiệp. Đặc biệt trong ngành công nghiệp ô tô và máy tính, việc thực hiện các chiến lược tìm nguồn cung ứng và thực hiện JIT (just in time: mua sắm hàng hóa sao cho lượng hàng hóa đó được sử dụng một cách tức thời, tránh tồn đọng không cần thiết, đảm bảo đúng sản phẩm - đúng số lượng - đúng nơi - đúng thời điểm) rất phát triển. Nhiều DN thiết lập 12 mối quan hệ hợp tác tìm nguồn cung ứng NVL và dịch vụ có tầm quan trọng chiến lược cho DN của họ.

Các đối tác phải có chung mục tiêu và cùng làm việc với DN để cải thiện các khía cạnh thiết kế, chất lượng, giao hàng và sản xuất các sản phẩm nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh (Akacum và Dale, 1995). Xu hướng này hướng tới hợp tác nhiều người mua và NCC hơn, và có tác động đáng kể đến việc: thay đổi cơ cấu cơ sở cung ứng, thông tin liên lạc của bên mua và NCC, NCC tham gia thiết kế sản phẩm và phát triển các NCC. Các DN vận dụng JIT và chiến lược quản trị chất lượng toàn diện (TQM) nhằm cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất và thời gian giao hàng. Mô hình tái cấu trúc cơ sở cung ứng và tích hợp NCC của Nhật Bản được coi là một chuẩn mực thực hành tốt nhất và được áp dụng trong hầu hết các DN giai đoạn này (Wildemann, 1990).

Giai đoạn 5 (giữa 1990s đến nay): Hầu hết các nghiên cứu trong giai đoạn này đều tập trung làm rõ định nghĩa, quy trình thực hiện các hoạt động quản lý chuỗi cung ứng cũng như hoạt động mua sắm của DN; đồng thời, nhấn mạnh vai trò chiến lược của hoạt động mua sắm cũng như tầm quan trọng của việc thiết lập mối quan hệ giữa DN và các NCC. Cụ thể, trong cuốn “Mua sắm và quản lý chuỗi cung ứng” xuất bản năm 1998 của Monczka và cộng sự (tr.11), các tác giả cho rằng hoạt động mua sắm là hoạt động đầu tiên trong quản lý chuỗi cung ứng của DN, bao gồm: việc lựa chọn nhà cung cấp, mua, đàm phán và ký kết hợp đồng, nghiên cứu thị trường cung cấp, đo lường và cải thiện hiệu suất của NCC, phát triển hệ thống mua sắm. Mua sắm được đề cập như là các hoạt động để có được 5 điều sau: đúng số lượng, đúng chất lượng, đúng thời gian, đúng nguồn và đúng giá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Hoạt Động Mua Sắm Xanh và Yếu Tố Đầu Vào Doanh Nghiệp Việt Nam" tập trung vào khái niệm mua sắm xanh và vai trò của nó trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp mua sắm bền vững, không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà mua sắm xanh có thể trở thành yếu tố đầu vào quan trọng, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản lý và phát triển doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi đề cập đến quản lý hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng, và Luận văn thạc sĩ về quản trị chất lượng tại công ty nhựa đường Petrolimex, bài viết này cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản trị chất lượng trong doanh nghiệp. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến quản lý doanh nghiệp và có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.