Chương 1 được trình bày thành 5 mục chính. Cụ thể ở mục 1.1 trình bày các nghiên cứu nước ngoài về KTMT và công bố thông tin KTMT, các nhân tố tác động đến công bố thông tin KTMT.2 mô tả các nghiên cứu về KTMT tại Việt Nam sau đó nhận xét các công trình nghiên cứu ở phần 1. Khe hổng nghiên cứu được nhận diện ở phần 1.4 và định hướng nghiên cứu thực hiện ở phần 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 1.1 Kế toán môi trường (KTMT) KTMT xuất hiện từ đầu những năm 1970, giai đoạn đầu được gọi là kế toán xã hội và môi trường. Kế toán xã hội và môi trường là việc tự nguyện công bố thông tin, cả định tính và định lượng được thực hiện bởi các công ty để thông báo đến các đối tượng có liên quan những ảnh hưởng môi trường từ hoạt động của họ.
Công bố định lượng có thể là các khoản mục tài chính hoặc phi tài chính (Mathews,1993) Sự phát triển Kế toán xã hội và môi trường được chia thành 3 giai đoạn 1971-1980; 1981-1990; 1991 đến 1995. Mục tiêu của Kế toán xã hội và môi trường nhằm mở rộng trách nhiệm giải trình của công ty với các cổ đông bằng việc thúc đẩy công bố các thông tin về xã hội, môi trường. Giai đoạn đầu tiên chưa có khung lý thuyết mà chỉ có một số nghiên cứu thực nghiệm có tồn tại hay không việc công bố thông tin có liên quan đến khía cạnh kế toán xã hội, còn thông tin môi trường chưa được quan tâm, số lượng công bố rất ít thể hiện số trang, dòng, từ. Kết quả nghiên cứu từ báo cáo thường niên của 500 công ty cho thấy, tỷ lệ công bố thông tin xã hội khoảng 90% nhưng khối lượng trung bình khoảng một nửa một trang (Ernst & Ernst, 1978).
Đến giai đoạn 1981-1990, việc công bố thông tin môi trường được quan tâm, thuật ngữ KTMT được nhấn mạnh trong thời gian này bởi nhu cầu BVMT. Có một số quy định liên quan đến môi 9 trường nhưng chưa thành Luật. Đến giai đoạn 1991-1995 KTMT phát triển thúc đẩy các nghiên cứu về lĩnh vực này và cũng có một số các quy định và luật có liên quan đến vấn đề môi trường (Mathews, 1997) Một nghiên cứu khác của Mathews cho thấy trong giai đoạn từ 1995- 2000 có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến KTMT cụ thể là vấn đề công bố thông tin môi trường. Cũng từ năm 1990 trở về sau, có nhiều nghiên cứu về khái niệm KTMT KTMT bao gồm tất cả các lĩnh vực kế toán có thể bị ảnh hưởng bởi phản ứng của doanh nghiệp đối với các vấn đề môi trường, bao gồm lĩnh vực mới là kế toán sinh thái (Gray & cộng sự, 1993).
Còn IMA (1996) nhấn mạnh đến khía cạnh chi phí: KTMT là việc xác định, đo lường và phân bổ CPMT, kết hợp CPMT trong các quyết định kinh tế, công bố thông tin cho các bên có liên quan. KTMT cũng là một bộ phận của kế toán nhằm ghi chép, phân tích và báo cáo thông tin về các tác động của DN tới môi trường và tới hiệu quả kinh tế - sinh thái của đơn vị (Schaltergger & cộng sự, 2000). Thông tin KTMT được sử dụng trong nội bộ, tạo ra thông tin môi trường để giúp đưa ra các quyết định quản lý về định giá, kiểm soát chi phí và ngân sách vốn; hoặc công bố cho các đối tượng bên ngoài có quan tâm như công chúng, nhà đầu tư, các tổ chức tài chính (Bartolomeo& cộng sự, 2000). KTQTMT hướng đến cung cấp thông tin môi trường trong nội bộ giúp quản lý chi phí môi trường tốt hơn (Yakhou & cộng sự, 2003).
Đến năm 2005, Bộ Môi trường Nhật Bản tiếp cận KTMT theo quan điểm phát triển bền vững, cơ quan này khẳng định: KTMT có mục tiêu hướng tới sự phát triển bền vững, vì cộng đồng, theo đuổi các hoạt động BVMT đồng thời công bố thông tin cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng (MOE, 2005).2 Công bố thông tin KTMT Công bố thông tin KTMT là công bố thông tin kế toán về môi trường trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thuyết minh báo 10 cáo tài chính. Các thông tin phải công bố gồm chi phí môi trường, tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường (Senn, 2018). Nghiên cứu về công bố thông tin môi trường chỉ được thực hiện ở một số ít các công ty vào cuối những năm 1980, tuy nhiên từ những năm 1990 lại trở thành chủ đề được các nhà nghiên cứu quan tâm (Barbu & cộng sự, 2012). Còn Mathews (2000) nhận thấy rằng phần lớn các nghiên cứu này được tiến hành trong bối cảnh các nước phát triển và tập trung vào thực hành công bố thông tin môi trường.
Đối với các nước đang phát triển khẳng định rằng mô hình kế toán thông thường không thể phục vụ nhu cầu hiện tại vì nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của họ khác với nhu cầu của các nước phát triển. Cần có các quy định bắt buộc cho các công ty báo cáo về tác động xã hội và môi trường do việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức trong tiến trình phát triển kinh tế. Công bố thông tin KTMT ở các nước phát triển tiên tiến hơn so với những nghiên cứu đã được thực hiện ở các nước đang phát triển. Ở các nước phát triển, các nhà nghiên cứu đã điều tra các yếu tố quyết định và chất lượng của việc công bố thông tin KTMT; điều tra mối quan hệ giữa công bố thông tin môi trường và hiệu quả kinh tế và môi trường.
Ngược lại, ở các nước đang phát triển, trọng tâm của nghiên cứu là liệu các công ty có công bố KTMT hay không và số lượng các thông tin này (Al-khuwiter, 2005).1 Công bố thông tin tự nguyện và bắt buộc Berthelot & cộng sự (2003) giải thích việc công bố tự nguyện hay bắt buộc cho rằng công bố thông tin tự nguyện của công ty nhằm mục đích nâng cao hình ảnh trước công chúng, đáp ứng nhu cầu thông tin cho các bên liên quan tuy nhiên thông tin công bố cần xem xét có thích đáng và đáng tin cậy; hình thức công bố cũng có sự khác biệt, mức độ ở dạng định tính, chủ yếu là thông tin tích cực. Đối với công bố thông tin bắt buộc dựa trên cơ sở quy định cụ thể của quốc gia được áp dụng đối với công ty niêm yết, các quy định này bắt buộc thông tin phải công bố, doanh nghiệp thực hiện công bố để đảm bảo tính hợp pháp và đáp 11 ứng nhu cầu của người sử dụng thông tin ngày càng cao. Chất lượng thông tin công bố và mối quan hệ với các nhân tố lợi nhuận, hiệu quả hoạt động môi trường được tiến hành dựa trên quan điểm công bố bắt buộc. Nghiên cứu này kết luận việc công bố thông tin môi trường có thể khác nhau tùy thuộc yếu tố bối cảnh như luật pháp hoặc trình độ công nghệ của quốc gia.
Mobus (2005) cho rằng công bố thông tin môi trường là một áp lực để các công ty tuân thủ các quy định trong việc sử dụng định mức môi trường. Ioannou & Setafeim (2014) ước tính sự khác biệt trong công bố thông tin liên quan đến các quy định bắt buộc công bố thông tin phi tài chính về môi trường, xã hội và quản trị công ty. Nghiên cứu tiến hành ở các công ty của bốn nước là Trung Quốc, Đan Mạch, Malaysia và Nam phi. Thông tin môi trường liên quan đến phát thải, nước, chất thải, năng lượng và các chính sách hoạt động xung quanh tác động môi trường.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về mức độ công bố thông tin, ngoài quy định bắt buộc, các công ty Trung Quốc và Nam phi còn công bố thông tin theo hướng dẫn của GRI để nâng cao độ tin cậy và tính so sánh của thông tin. Jerry (2015) phân tích thực hành công bố thông tin KTMT của công ty Nigeria liệu có khác nhau khi không có hướng dẫn bắt buộc công bố. Kết quả nghiên cứu cho rằng thiếu chuẩn mực kế toán môi trường nên các bên liên quan chỉ dựa vào thông tin mà doanh nghiệp tự nguyện công bố, thông tin này không đồng nhất giữa các công ty, các quốc gia. Vì vậy, tác giả đề nghị cần xây dựng chuẩn mực công bố thông tin về KTMT để tạo sự đồng nhất trong việc công bố.
Còn nghiên cứu của Kaya (2016) cho rằng Đạo luật Code Grenelle II của Pháp mặc dù có quy định công bố thông tin về môi trường & xã hội là bắt buộc tuy nhiên không hướng dẫn cụ thể về thông tin công bố do đó chất lượng công bố thông tin môi trường không có ảnh hưởng tích cực, vì vậy cần có quy định hướng dẫn các công ty lập báo cáo môi trường và xã hội là hướng đến sự phát triển bền vững.2 Các nghiên cứu thực hành công bố thông tin KTMT Kreuze & cộng sự (1996) cho rằng các công ty Fortune 500 đã không 12 cung cấp bất kỳ thông tin nào về triết lý và chính sách môi trường trong BCTN. Có 73% các báo cáo trong tổng số của 645 công ty không chứa bất kỳ thông tin gì về môi trường. Đối với các công ty trong ngành năng lượng, thép thì chỉ cung cấp thông tin chung chung. Năm 1997, Walden & Schwartz (1997) đã điều tra những thay đổi về mức độ thực hành công bố thông tin môi trường từ năm 1988,1989 và 1990 của 53 công ty từ bốn ngành công nghiệp gồm số lượng và chất lượng thông tin.
Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể về cả số lượng và chất lượng của công bố môi trường. Tác giả cho rằng sự quan tâm của công ty và nhận thức của công chúng sau các sự cố môi trường như sự cố tràn dầu tạo ra áp lực về chính sách làm gia tăng công bố. Fortes & Akerfeldt (1999) khảo sát các xu hướng chung trong công bố thông tin môi trường của 205 công ty Thụy Điển được niêm yết. Họ đã sử dụng cuộc khảo sát qua bưu điện và thực hiện nội dung phân tích các báo cáo hàng năm báo cáo môi trường độc lập.
Các cuộc phỏng vấn cá nhân được thực hiện với quản lý môi trường và cán bộ điều hành. Những phát hiện chính của nghiên cứu như sau: -Các công ty hóa chất, dầu khí, tiện ích và lâm nghiệp các ngành công nghiệp có xu hướng công bố thông tin môi trường ngày càng tăng.