CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ HẠCH TOÁN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 1. Các khái niệm liên quan đến hạch toán quản lý môi trường 1. Hạch toán quản lý Hạch toán quản lý là những biện pháp và các báo cáo về các thông tin tài chính và phí tài chính giúp cho những người quản lý ra các quyết định để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Hạch toán quản lý là một phần của quản lý thông tin nội bộ nhằm trợ giúp việc ra quyết định ở tất cả các mức trong công ty (các bộ phận, ban giám đốc) và sử dụng để hạch toán bên ngoài (hạch toán tài chính).
Trong thực tế, hạch toán quản lý là một trong những công cụ thông tin quan trọng nhất được các nhà quản lý sử dụng. Hạch toán quản lý đạt được sự tin cậy đó bởi các lý do sau: - Là một phần của công tác quản lý thông tin nội bộ, bộ phận này liên quan đến vấn đề thu thập thông tin tiền tệ và phi tiền tệ nhưng những thông tin này phải được xác định và đo đạc. - Hỗ trợ công tác ra quyết định ở mọi cấp trong một công ty là làm thế nào đạt được mong muốn, mục tiêu từ cấp quản lý cao nhất đến cấp quản lý sản xuất và bộ phận. Nếu hàng năm doanh nghiệp đề ra mức phát thải chất thải khoảng 5% mức tiêu thụ nguyên liệu của nhà máy thì đó là hệ thống hạch toán quản lý cung cấp thông tin về mục tiêu và sau đó so sánh với lượng chất sinh ra từ thực tế từ việc sử dụng nguyên liệu.
- Hỗ trợ cho việc lập kế hoạch hành động và chiến lược, hình dung được mục tiêu, dự toán trước các kết quả tiềm năng theo hoàn cảnh và các cách khác nhau để đạt được mục tiêu. Mục tiêu có thể là cải thiện hiệu quả của hệ sinh thái doanh nghiệp bằng cách giới thiệu các hệ thống có khả năng đo lường các quá trình kinh tế và môi trường nhằm hướng tới hiệu quả sinh thái. Người thực hiện: Nguyễn Mạnh Tuấn 3 LUẬN VĂN THẠC SỸ - Tác động bổ trợ của hạch toán quản lý là có thể sử dụng cho các hạch toán bên ngoài như hạch toán tài chính, hạch toán thuế… Hệ thống hạch toán quản lý hiện nay dựa trên quá trình đơn giản hoá quá trình phức tạp của thực tế hoạt động hạch toán tài chính, hệ thống đó mới ch bao gồm những biến số liên quan tới việc xác định doanh thu và chi phí có mối quan hệ trực tiếp tới sản phẩm. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy hệ thống này không đáp ứng được những biến đổi của nền kinh tế thị trường, không phù hợp với quá trình hội nhập và toàn cầu hoá trong tất cả các lĩnh vực kinh tế nói chung và môi trường nói riêng.
Vấn đề đặt ra đã khiến các nhà đầu tư, các doanh nghiệp cần phải đưa ra các giải pháp kinh tế cho các vấn đề môi trường: chi phí bảo vệ môi trường (thiết kế hệ thống xử lý chất thải, sản xuất sạch hơn…), phương pháp hạch toán chi phí bảo vệ môi trường trong hệ thống hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói, doanh nghiệp cần phải nhận thức sâu sắc về các chi phí bảo vệ môi trường không ch đơn giản là chịu đựng chúng mà phải xác định, phân tích và quản lý được các chi phí này. Vì vậy, cần thiết phải tiến hành thực hiện hoàn thiện các hệ thống hạch toán kinh doanh hiện nay của doanh nghiệp theo hướng tính đến các yếu tố môi trường là một trong yêu cầu khách quan và cần thiết. Đó là cơ sở ra đời phương pháp Hạch toán quản lý môi trường.
Hạch toán quản lý môi trường Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC: International Federation of Automatic Control, 2005): “ Hạch toán quản lý môi trường (EMA) là quản lý hoạt động kinh tế và môi trường hiệu quả thông qua việc triển khai và thực hiện các hệ thống hạch toán và các hoạt động thực tiễn phù hợp liên quan đến vấn đề môi trường”. Trong đó, EMA có thể bao gồm các báo cáo và kiểm tra ở một số công ty, hạch toán quản lý môi trường thường liên quan tới chi phí vòng đời sản phẩm, hạch toán chi phí đầy đủ, và lập kế hoạch chiến lược cho quản lý môi trường. Người thực hiện: Nguyễn Mạnh Tuấn 4 LUẬN VĂN THẠC SỸ - Theo cơ quan Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD) thống nhất giữa các nhóm chuyên gia đến từ 30 quốc gia đã đưa ra định nghĩa như sau: “Hạch toán Quản lý Môi trường là việc nhận dạng, thu thập, phân tích và sử dụng 2 loại thông tin cho việc ra quyết định nội bộ: Thông tin vật chất về sử dụng, luân chuyển và thải bỏ năng lượng, nước và nguyên vật liệu (bao gồm chất thải) và Thông tin tiền tệ về các chi phí, lợi nhuận và tiết kiệm liên quan đến môi trường.” Như vậy, EMA được xem xét từ hai góc độ: công tác kế toán và công tác quản lý môi trường. EMA có rất nhiều chức năng khác nhau như là hỗ trợ việc ra quyết định nội bộ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm hướng tới hai mục đích là cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính và hiệu quả hoạt động về môi trường.
Và cung cấp thông tin về tất cả các loại chi phí liên quan đến môi trường (trực tiếp và gián tiếp, chi phí ẩn và chi phí hữu hình), thông tin thực tế về tất cả các dòng vật chất và năng lượng. EMA theo nghĩa rộng là việc nhận dạng, thu thập, phân tích và sử dụng hai loại thông tin cho việc ra quyết định nội bộ: Thông tin vật chất về sử dụng, luân chuyển và thải bỏ năng lượng, nước và vật liệu (bao gồm chất thải) và thông tin tiền tệ về chi phí liên quan đến môi trường, lợi nhuận và tiết kiệm. Mặc dù EMA có những định nghĩa và các sử dụng khác nhau, nhưng những kết quả của EMA đều để tính toán và ra quyết định nội bộ, cụ thể: quy trình về đo lường vật lý đối với tiêu thụ nguyên liệu và năng lượng, các dòng hạch toán nguyên vật liệu và quy trình đánh giá bằng tiền đối với các chi phí, khoản tiết kiệm và nguồn thu liên quan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các tác động môi trường tiềm năng; các quy trình hiệu quả đối với việc ra quyết định mua nguyên vật liệu, đầu tư công nghệ tiên tiến, thiết kế sản phẩm chất lượng cao… Do đó, EMA là một thuật ngữ bao gồm cả hạch toán quản lý môi trường tiền tệ (MEMA) và Hạch toán quản lý môi trường phi tiền tệ (PEMA). Các nội dung của MEMA và PEMA sẽ được nõi rõ hơn ở Chương 2.
Người thực hiện: Nguyễn Mạnh Tuấn 5 LUẬN VĂN THẠC SỸ 1. Các khái niệm về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản hao phí vật chất được tính bằng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, có đặc điểm là luôn vận động mang tính đa dạng và phức tạp gắn với tính đa dạng, phức tạp của ngành nghề sản xuất, qui trình sản xuất. Còn giá thành là toàn bộ những chi phí bằng tiền để sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Hay nói cách khác, giá thành sản phẩm dịch vụ là hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cho một đơn vị khối lượng sản phẩm hoặc lao vụ nhất định biểu hiện bằng tiền.
Như vậy, chi phí sản xuất và giá thành đều là chi phí sản xuất ch có điều chi phí sản xuất thì tính cho một thời kì còn giá thành thì tính cho một sản phẩm hoàn thành. Do đó khi có sản phẩm dở dang thì: Giá thành = chi phí dở dang đầu kì + chi phí sản xuất trong kì – chi phí dở dang cuối kì Nếu không có sản phẩm dở thì chi phí sản xuất chính là giá thành. Ví dụ như ngành điện, ngành dịch vụ vận tải,… Chi phí sản xuất trong kì là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm dịch vụ.
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liện để tính thì giá thành sản phẩm có 3 loại là: Giá thành kế hoạch (tính trên cơ sở chi phí kế hoạch), giá thành định mức (tính trước khi sản xuất và chế tạo ra sản phẩm, dựa vào định mức để tính), và giá thành thực tế (xác định khi quá trình sản xuất, chế tạo đã hoàn thành, và dựa trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh). Người thực hiện: Nguyễn Mạnh Tuấn 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ 1. Chi phí môi trường Theo nguyên lý tảng băng ngầm chi phí môi trường được mô phỏng như tảng băng ngầm mà các chi phí dễ nhận thấy (phần nổi của tảng băng) là các chi phí theo quan điểm truyền thống ch là một phần nhỏ so với các chi phí bị ẩn (phần chìm của tảng băng). Đó là do theo quan điểm truyền thống thì người ta vẫn ch xem một số chi phí thực chất là chi phí môi trường như là chi phí trực tiếp cho sản xuất và các chi phí khác.
Nhưng thực ra các chi phí không được nhìn thấy rõ ràng cũng là các chi phí môi trường và nó thậm chí lớn hơn rất nhiều các chi phí dễ nhận thấy. Nhìn trên hình ta dễ dàng nhận thấy chi phí xử lý chất thải hay thiêu đốt rác nhưng thực ra chi phí này ch là một phần nhỏ trong tổng chi phí liên quan đến môi trường vì không phải tự nhiên chất thải sinh ra mà phải mất năng lượng, mất tiền để mua nguyên vật liệu rồi một phần trở thành chất thải. Nếu giảm được chất thải đầu ra thì sẽ tiết kiệm được chi phí liên quan khác dẫn tới chi phí chung sẽ được giảm. EMA chính là công cụ có thể đo lường tất cả các chi phí liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường.
Tảng băng ngầm chi phí môi trường Trong đó: Các con số thể hiện các loại chi phí. Người thực hiện: Nguyễn Mạnh Tuấn 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ (2): Chi phí năng lượng cho phế liệu. (3): Chi phí mua vật liệu phế thải. (4): Chi phí phát sinh cho diện tích chứa chất thải.
(5): Chi phí gia công nguyên vật liệu phế thải. (6): Chi phí nhân công cho xử lý chất thải và phế liệu. (7): Chi phí hành chính cho xử lý chất thải và nguyên vật liệu thải.