Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE UNG DỤNG THUONG MAI ĐIỆN TỬ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VU'A 1. Một số vấn đề lý luận chung về thương mại điện tử 1. Khái niệm, hình thức, mô hình, lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử 1. Khái niệm thương mại điện tử Thương mại điện tử (TMĐT) là một lĩnh vực mới mẻ cả từ tên gọi và cách tiếp cận.
Xuất phát từ những quan điểm nhìn nhận khác nhau, hiện nay một số tên gọi hay được nhắc đến nhiều như: TMĐT trực tuyến (onlineTrade), thương mại điều khiển học (Cyber Trade), thương mại không giấy tờ (Paperless Commerce hoặc là Paperless Trade). Đặc biệt nôi bật nhất là: TMĐT (Electronic Commerce), kinh doanh điện tử (Electronic Business). Gan đây, tên gọi TMĐT được sử dung nhiều rồi trở thành quy ước chung, đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù với các tên gọi khác vẫn có thể được dùng và được hiểu cùng một nội dung. Về bản chất, TMPT là việc sử dung các phương pháp điện tử dé thực hiện các hoạt động thương mại, nói chính xác hơn TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại và mua bán hàng hoá, dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bat cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.[7] 1I Theo Đạo luật mẫu về TMĐT của Uỷ ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) thì TMĐT cần được hiểu theo nghĩa rộng: thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng đề bao quát các vấn dé nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mai, dù có hay không có hợp đồng.
Các mối quan hệ mang tính thương mại (Commerial) gồm các giao dịch sau đây: Bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng (Factoring), cho thuê dài hạn (Leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình (Engineering); đầu tư, cấp vốn, ngân hàng , bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh chuyên chở hàng hoá hay hành khách hoặc đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ. Như vậy, TMĐT không phải chỉ đơn thuần là mua bán hàng hoá, dịch vụ qua hệ thống mạng máy tính theo cách hiểu truyền thống. TMĐT cần được tiếp cận theo cách đầy đủ hơn, bao quát một phạm vi rộng thực hiện dưới nhiều hình thức phong phú. Theo ước tính của một số chuyên gia cho đến nay đã có khoảng trên 1300 lĩnh vực ứng dụng của TMĐT trong số đó trên 1300 ứng dụng này thì trao đổi, buôn bán hàng hoá dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng cơ bản nhất, rộng rãi nhất của TMĐT.
Các hình thức thương mại điện tử a. Thư điện tử (Electronic mail: E-mail) Thông tin được sử dụng là dạng thông tin phi cấu trúc (Unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận hoặc được định sẵn. E-mail thường được sử dụng là một phương tiện trao đồi thông tin giữa các cá nhân, các công ty, các tổ chức. với một thời gian ngắn nhất, chỉ phí rẻ nhất có thể sử dụng được mọi lúc, đến được mọi nơi trên thế giới.
Một địa chỉ, một hộp thư E-mail chính là sự xác định sự tồn tại, sự hiện hữu 12 của một cá thể, một công ty một tổ chức. trên môi trường ảo - môi trường Internet. Thanh toán điện tử (Electronic Payment) Thanh toán điện tử là quá trình thanh toán dựa trên hệ thống thanh toán tài chính tự động, mà ở đó diễn ra sự trao đồi các thông điệp điện tử với chức năng là tiền tệ, thé hiện giá trị của một cuộc giao dịch. Một số hình thức chính sau: - Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Finanical Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.
- Tiền mặt Internet (Internet Cash): tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (Ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, sử dụng trên phạm vi thế giới và tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá. Sử dụng tiền mặt số này (Digital Cash) có thể dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, do chỉ phí giao dịch mua hàng và chi phí chuyển tiền rất tháp. Hơn nữa, nó không đòi hỏi một quy chế được thoả thuận từ trước, có thể tiến hành giữa hai con người, hai công ty bắt kỳ, hoặc là các thanh toán vô danh. - Thẻ thông minh (Smart Card) là một loại thẻ giống như thẻ tín dụng, tuy nhiên ở sau mặt thẻ, là một chip máy tính điện tử có bộ nhớ nhỏ dé lưu trữ tiền số hoá, tiền ấy chỉ được chỉ trả khi người sử dụng và thông điệp được xác thực là đúng.
- Giao dịch ngân hàng số hoá (Digital Banking), và giao dịch chứng khoán số hoá (Digital Securities Trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống: * Thanh toán giữa ngân hang với khách hàng (qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ, các kios, giao dịch các nhân tại nhà, tại trụ sở khách hàng, qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, vấn tin a) * Thanh toán giữa các ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hang siêu thị.) 13 * Thanh toán trong nội bộ hệ thống ngân hàng * Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác (thanh toán liên ngân hàng). Trao đồi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange: EDI) Trao đổi dữ liệu điện tử là việc trao đổi dữ liệu dưới dang có cấu trúc (Structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa công ty hay tổ chức đã thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thoả thuận từ trước khuôn dạng cấu trúc của thông tin). Theo Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa pháp lý sau đây: Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là về việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy khác bằng phương tiện điện tử sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả thuận để cấu trúc thông tin.
Giao gửi số hoặc các dung liệu (Digital Content Delivery) Dung liệu (Content) là các hàng hoá mà cái người ta cần đến là nội dung của nó (hay nói cách khác chính nội dung hàng hoá mà không phải là bản thân vật mang nội dung đó). Ví dụ: tin tức sách báo, nhạc, phim, ảnh, các chương trình truyền hình, phát thanh, phần mềm, các dịch vụ tư vấn, vé máy bay, xem phim hợp đồng bảo hiểm. Xuất bản điện tử (Electronic Publishing hay Web Publishing) là việc đưa các tờ báo, các tư liệu công ty, các catalogue hoặc những thông tin về sản phẩm hay những hình thức khác tương tự lên trên mạng Internet. Khác trước kia, dung liệu được giao dưới dạng hiện vật (Physical Form) bằng cách ghi vào đĩa từ, băng, in thành sách báo, văn bản.
thì ngày nay, dung liệu được số hoá và truyền gửi qua mạng gọi là giao gửi số hoá. Ở Mỹ khoảng 90% dân chúng nhận tin tức va thông tin qua Internet/Web va khoảng 80,5% sử dụng Internet/Web là công cụ phục vụ cho nghiên cứu, học 14 tập. Ứng dụng của giao gửi số hoá phát triển mạnh ở những lĩnh vực như: phát hành các ấn phẩm điện tử (sách báo điện tử, báo điện tử. ) hoặc thông qua thiết bị đa phương tiện (Multimedia) các sản phẩm phim ảnh, truyền hình, hội nghị qua mạng, nghe nhạc, các thông tin về bảo hiểm, hoặc đầu tư chứng khoán.
đã tạo cho Internet một môi trường thông tin khổng lồ, phong phú. Bán lẻ hàng hoá hữu hình (E-Retail) Bán lẻ hàng hoá trên mạng Internet là việc tiến hành bán tat cả các sản phẩm mà một công ty có thể thông qua mạng Internet. Đề làm được điều này cần phải xây dựng trên mạng các cửa hàng ảo (Virtual Shop), nhằm mục đích tạo một kênh bán hàng trực tiến đê có thé đáp ứng được nhu cầu khách hàng một cách tối ưu nhất. Bên cạnh đó công ty cổ phần phải xây dựng cho bản thân mình một hạ tầng cơ sở đủ mạnh như: hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống đặt hàng trực tuyến, hệ thống hỗ trợ khách hàng trực tuyến, hệ thống bảo mật.
Hang hoá trên Internet phải được số hoá, nghĩa là những hàng hoá giúp cho người mua xác định kiểm tra được tính hiện hữu hàng hoá về chất lượng .Cửa hàng điện tử (Store - front, Store - building) là những phần mềm được ứng dụng trong việc xây dựng một trang Web của công ty ở trên mạng có tính năng là một cửa hàng trên mạng. Những cửa hàng như vậy sẽ giúp cho người mua giao tiếp trực tuyến một cách thoải mái với cửa hàng và hàng hoá, người mua có thé tự do lựa chọn hang hoá như vào một siêu thị bình thường, va tat cả công việc mua sắm chỉ là ấn nút và điền các thông số thẻ tin dụng, Sau khi giao dịch được tiến hành xong, giao gửi hàng hoá hữu hình sẽ được tiến hành bằng việc giao gửi hàng hoá hữu hình sẽ được tiến hành bằng việc giao gửi hiện vật, giống như hình thức phân phối hàng theo truyền thống. Một số mô hình thương mại điện tử cơ bản 15 a. B2B (Business to Business): là thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp với nhau.
Đây là mô hình thương mại điện tử gắn với mối quan hệ giữa các doanh nghiệp. Mô hình này chiếm tới trên 80% doanh số thương mại điện tử trên toàn cầu và ngày càng trở nên phổ biến. Nó hỗ trợ rất nhiều cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài. Một trong những điền hình trên thế giới thành công trong hoạt động theo mô hình B2B là Alibaba.com của Trung Quốc.
B2C (Business to Consumer): là thương mại giữa các doanh nghiệp và người tiêu dùng liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng hoá hữu hình (như sách, các sản phẩm tiêu dùng.) sản phẩm thông tin hàng hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá như phần mềm, sách điện tử và các thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử. Một trong những công ty kinh doanh thành công trên thé giới theo mô hình này là Amazon.