Chương 1: Một số van đề lý luận về pháp luật hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh các FTA thế hệ mới Chương 2: Thực trạng pháp luật hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong bối cảnh các FTA thế hệ mới Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong bối cảnh các FTA thé hệ mới NỘI DUNG CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUAT HO TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VA VUA TRONG BOI CANH CAC FTA THE HE MOI 1. Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh các FTA thé hệ mới 1. Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khải niệm Doanh nghiệp nhỏ va vừa (DNNVV) hay SMEs (Small and Medium Enterprises) nói chung là loại doanh nghiệp (DN) có số lao động hay doanh số ở một giới hạn nào đó.
Khái niệm DNNVV hay SMEs được dùng phố biến ở Hoa Kỳ, ở các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu và ở các tô chức quốc tế như Ngân hàng TG (World Bank), Liên Hiệp Quốc (United Nations), Tổ chức Thương mại TG (WTO),. Theo tiêu chí của Ngân hàng TG (World Bank), DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu có cách định nghĩa riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia: Ví dụ ở Đức thì SMEs được định nghĩa là DN có số lao động dưới 500 người, trong khi đó ở Bi là 100 người. Tuy nhiên hiện nay việc định nghĩa về SMEs của Liên minh Châu Âu (EU) cụ thể, rõ ràng hơn.
DN có đưới 50 lao động là DN nhỏ, ngược lại DN có trên 250 lao động được xác định là DN vừa. Trong khi đó ở Mỹ thì DN có dưới 100 lao động là DN nhỏ, DN dưới 500 lao động là DN vừa. Ở Việt Nam khung pháp lý hỗ trợ DNNVV ngày càng được hoàn thiện theo thời gian, đặc biệt vào ngày 12/6/2017 Quốc hội đã thông qua Luật Hỗ trợ DNNVV nâng tầm giá trị pháp ly cho các văn bản pháp luật về hỗ trợ DNNVV. Các tiêu chí xác định DNNVV được quy định tại Điều 4 của Luật Hỗ trợ DNNVV 2017 bao gồm: (1) DNNVV gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau day: (i) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (ii) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
(2) DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. 7 Như vậy, có thé nhận xét: Có nhiều quan điểm khác nhau về DNNVV phụ thuộc vào từng điều kiện cụ thé của mỗi nước trên TG. Khái niệm hay định nghĩa về DNNVV chỉ mang tính chất tương đối cả về thời gian lẫn không gian dé phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, các tiêu chí xác định DNNVV ở mỗi quốc gia có thê khác nhau.
Ngay ở một quốc gia, các tiêu chí xác định DNNVV có thê thay đổi trong từng thời kỳ do sự biến đổi của tăng trưởng kinh tế, giá cả và các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, ton tại dưới các hình thức kinh doanh khác nhau. DNNVV là cơ sở kinh doanh độc lập, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau do một hoặc nhiều chủ thể đầu tư vốn thành lập. Vị thế của DNNVV là một chủ thể có tư cách pháp lý độc lập, được tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, bình đẳng với các DN có quy mô von lớn.
Mục dich của các DNNVV là thực hiện hoạt động kinh doanh hướng đến lợi nhuận. Đây cũng là động lực của tat cả các loại hình DN dé dam bảo sự tồn tại, phát triển và có vị thé cạnh tranh trên thương trường. Theo pháp luật DN hiện hành của Việt Nam thì DNNVV là loại hình DN được tổ chức dưới các hình thức tổ chức như DN tư nhân, công ty và vì thế, DNNVV có bản chất của DN: là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dich ôn định (trụ sở chính). đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật và thực hiện các hoạt động kinh doanh hướng đến lợi nhuận.
Thứ hai, DNNVV có quy mô nhỏ và số lượng lao động it. DNNVV là những DN có quy mô vốn nhỏ; sử dụng ít lao động, doanh thu thấp, trình độ quản lý DN và chất lượng nhân sự, người lao động của DN cũng như chỉ phí đào tạo lao động không cao trong tương quan so sánh với các DN khác. Tiêu chí quy mô nhỏ và số lượng lao động ít là những tiêu chí quan trọng dé nhận diện đó có phải là DNNVV so với các DN không phải là DNNVV. Tuy nhiên, tiêu chí quy mô hay số lao động có thê thay đổi trong từng thời kỳ phụ thuộc vào sự biến động về giá và tài sản trên thực tế.
Các tiêu chí này và ưu tiên lựa chọn tiêu chí vôn/doanh thu, lao động ở mỗi quốc gia sẽ khác nhau phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ở mỗi ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh cụ thể tiêu chí vốn/doanh thu, số lượng lao động có thé dao động khác nhau dé xác định DNNVV. Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động vốn dé phân loại DNNVV sẽ thấp hơn so với các nước phát triển. Tính chat ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có 8 ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện.
Do đó cần tính đến tính chất nay dé có sự so sánh đổi chứng trong phân loại các SMEs giữa các ngành với nhau. Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động. Còn một số tiêu chí khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước. Có sự khác nhau như vậy là vì yêu cầu hoạt động kinh doanh của mỗi lĩnh vực kinh doanh có đặc thù khác nhau.
Với đặc điểm quy mô vốn nhỏ, tổ chức quan lý DN đơn giản, gọn nhẹ, dé dàng thành lập DN với số vốn nhỏ nên DNNVV dé dàng, năng động hon so với các DN lớn trong việc thay đôi hướng kinh doanh. Mặt khác, DNNVV sẵn sàng mạo hiểm đầu tư vào các lĩnh vực mới, mạo hiểm với rủi ro có thê xảy ra. Bởi lẽ, nếu DNNVV that bại thì cũng chỉ chịu rủi ro trong phạm vi nguồn tài chính nhỏ và có thé khởi nghiệp từ đầu. Với số lượng lao động ít nên mối quan hệ giữa người chủ DNNVV với các nhân sự trong DN có khả năng kiểm soát được nguy cơ dẫn đến mâu thuẫn.
Khác với DNNVV, các DN có quy mô lớn sẽ phải cân nhắc và ít dám mạo hiém dau tư thay đổi hoàn toàn định hướng kinh doanh; lợi ích kinh tế lớn là nguyên nhân dẫn đến sự xung đột, tranh giành quyền lực quản lý DN nhiều hơn. Bên cạnh những điểm năng động, linh hoạt của DNNVV thì DNNVV cũng gặp những khó khăn từ đặc điểm về quy mô vốn nhỏ. Do là khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn dé đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh; là khó khăn trong việc đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh trong xu thế hội nhập quốc tế. Mặt khác, vì DNNVV có ít vốn nên khó cạnh tranh với các DN lớn trong việc thu hút lao động có tay nghề cao, với nguồn kinh phí hạn hẹp nên DNNVV khó có khả năng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động.
Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự hỗ trợ đối với khu vực DNNVV. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh thực hiện các FTA thế hệ mới Thứ nhất, DNNVV phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, đóng góp tích cực vào việc tăng trưởng kinh tế. Ở bất cứ quốc gia nào trên TG, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, luôn có những vùng, những khu vực địa phương kém phát triển so với phần còn lại. Những khu vực này có vi trí dia lý không thuận lợi, tài nguyên nghèo nan.
Cac DN lớn thường bỏ qua những khu vực này dé tập trung dau tư, kinh doanh vào những vùng có điều kiện phat triển thuận lợi, nhằm thu được nguồn lợi ích lớn hơn. Điều này dẫn tới sự phát triển không đồng đều giữa các vùng của quốc gia và gây ra những thiệt hại tiềm ẩn cho nên kinh tế. Đối với các DNNVV, chi phi đầu tư và xây dựng cơ sở vật chất so với lợi ích và đoanh thu đem lại là xứng đáng dé đầu tư vào những vùng này. Trong bối cảnh các hiệp định FTA thé hệ mới được thực hiện, các DNNVV càng phải phát huy và tận dụng những nguồn lực của địa phương 9 dé tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm va đây mạnh xuất khẩu, tạo cơ hội cho những mặt hàng truyền thống.
Thứ hai, DNNVV đóng góp tích cực vào việc thúc đây và tăng trưởng kinh tế. Trên toàn TG, DNNVV của các nền kinh tế chiếm khoảng 90% tông số DN, đóng góp tỷ trọng lớn, khoảng 40% GDP. Tại một số nền kinh tế điển hình ở khu vực Đông Nam Á, như Malaysia, DNNVV hang năm đóng góp trung bình 32% GDP; Thái Lan chiếm 37,8% GDP; Singapore đóng góp vượt quá 50% GDP”. Tại Việt Nam các DNNVV chiếm ty trọng khoảng 97,2% trên tong số các DN trong cả nước, đóng góp trung bình hàng năm khoảng 45% GDP và 31% tong số thu ngân sách quốc gia’.
Thứ ba, DNNVV tao ra nhiều việc làm cho người lao động và đảm bảo nguồn thu nhập cho một bộ phận dân cư, luôn là nơi thu hút các lao động đến làm việc. Ở những nước phát triển như Canada, giai đoạn từ năm 2002-2012, DNNVV đã tạo ra 77% số việc làm mới”. Do các DNNVV phân bồ rải rác từ những vùng trung tâm phát triển đến vùng chưa phát triển kinh tế nên DNNVV có thé tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt là đối với những người lao động có trình độ, kỹ năng hay tay nghề thấp.