phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: TMĐT và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển TMĐT tại Việt Nam. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát triển TMĐT ở Việt Nam. 10 z Chƣơng 1 THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.
Khái niệm và đặc điểm thƣơng mại điện tử 1. Khái niệm Có nhiều định nghĩa khác nhau về TMĐT, do nhiều tổ chức quốc tế như Ủy ban châu Âu, WTO, OECD đưa ra, nhưng định nghĩa sau đây đã được chấp nhận phổ biến hơn cả: TMĐT là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại; nói chính xác hơn, TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại qua các phương tiện công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch [38, tr. Trong định nghĩa trên, chữ “thông tin” không theo nghĩa hẹp là “tin tức”, mà là bất cứ gì có thể chuyển tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các tệp văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bản vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử, các hình đồ họa, quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hóa đơn, biểu giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh,. Từ “thương mại” trong “thương mại điện tử” cần được hiểu như cách diễn đạt sau đây của Ủy ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế, đã được ghi trong Đạo luật mẫu về TMĐT do Ủy ban này thảo ra và đã được Liên hiệp quốc thông qua: „Thuật ngữ “thương mại” cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng.
Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: Bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác 11 z về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ” [38, tr. Tóm lại, theo nghĩa rộng thì TMĐT được hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử. Và TMĐT theo nghĩa hẹp bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện qua mạng internet. Các phương tiện kỹ thuật của TMĐT bao gồm: điện thoại, máy điện báo (telex) và máy fax, truyền hình, thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử, mạng nội bộ và liên mạng nội bộ, internet.
Các hình thái hoạt động của TMĐT gồm thư điện tử (Electronic mail, gọi tắt là e-mail), thanh toán điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI); giao gửi số hóa các dung liệu (content), dung liệu là các hàng hóa và cái con người ta cần đến là các nội dung của nó (hay nói cách khác chính nội dung là hàng hóa) chứ không phải bản thân vật mang nội dung, ví dụ như tin tức, sách báo, nhạc, phim, các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, xem hát, các chương trình bán lẻ hàng hóa hữu hình, tức là người bán xây dựng các “cửa hàng ảo” trên mạng, người mua sử dụng mạng internet/web tìm trang web của cửa hàng, xem hàng hóa hiển thị trên màn hình, xác nhận mua, trả tiền bằng hình thức thanh toán điện tử sau đó cửa hàng giao hàng tới tận nhà. Giao dịch TMĐT (electronic commerce transaction) bao gồm 4 kiểu: Giữa Người với Người: qua điện thoại, máy fax và e-mail; Người với Máy tính điện tử: một cách trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử (Electronic Form) và qua mạng Internet; Máy tính điện tử với Máy tính điện tử: qua trao đổi EDI, thẻ thông minh (smart card), các dữ liệu mà gọi là dữ liệu mã vạch; Máy tính điện tử với Người: qua thư tín do máy tự động sinh ra, máy fax và thư điện tử. Ở Việt Nam, “TMĐT” là thuật ngữ mới xuất hiện trong những năm gần đây và cũng chưa có văn bản pháp lý chính thức đưa ra định nghĩa chính xác về TMĐT. Phần đông đều cho TMĐT là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ 12 z thông qua các phương tiện điện tử và các mạng viễn thông, chủ yếu là máy tính và internet.
Tuy nhiên, căn cứ vào các định nghĩa đã có trên thế giới và Việt Nam, xét thực tế và tương lai phát triển của TMĐT thì có thể hiểu TMĐT theo hướng “thương mại” theo nghĩa rộng (tức là thương mại hiện đại) còn “điện tử” theo nghĩa hẹp. Có nghĩa là “Thương mại điện tử là mọi hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng internet và các mạng viễn thông khác”. Luận văn cũng dùng khái niệm này để nghiên cứu. Đặc điểm và phân loại Thương mại điện tử 1.
Đặc điểm So với các hoạt động thương mại truyền thống, TMĐT có một số điểm khác biệt cơ bản sau: Không cần tiếp xúc trực tiếp trong giao dịch thương mại: Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Số lượng chủ thể giao dịch tối thiểu là 3 bên: Trong hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất 3 chủ thể, ngoài người bán và người mua còn có bên thứ ba không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực. Mạng thông tin đóng vai trò quyết định trong hoạt động TMĐT: Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với TMĐT thì mạng lưới thông tin đóng vai trò quyết định tới thành bại của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phân loại Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các mô hình TMĐT, như phân loại theo công nghệ kết nối mạng (có dây và không dây), theo hình thức dịch vụ (chính phủ điện tử, giáo dục điện tử, tài chính điện tử.), theo mức độ phối hợp, chia sẻ và sử dụng thông tin qua mạng (thương mại thông tin, thương mại giao dịch, thương mại cộng tác.
Tuy nhiên, người ta thường 13 z hay phân chia theo đối tượng tham gia, hay cụ thể hơn là cách thức giao dịch giữa các chủ thể của TMĐT là: Doanh nghiệp (B), người tiêu dùng (C) và Chính phủ (G). Căn cứ vào đó có thể có các loại sau: TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (B2B): Là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa DN và DN được thực hiện trên các sàn giao dịch mạng. TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C): Là loại hình mua bán qua mạng giữa DN và người tiêu dùng, chủ yếu là mô hình bán lẻ. Ở đó, các DN sử dụng các phương tiện điện tử để trưng bày, tiếp thị, bán hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng và ngược lại, người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng.
Đây chính là hình thái sớm nhất của TMĐT [26]. TMĐT giữa doanh nghiệp và Chính phủ (B2G): Là loại hình giao dịch điện tử giữa DN và các cơ quan nhà nước. Trong đó, cơ quan nhà nước đóng vai trò là khách hàng, mua bán hàng hóa phục vụ cho các hoạt động công bằng cách mua trực tiếp hoặc tiến hành đấu thầu trên mạng. Mặt khác, các cơ quan nhà nước cũng lập các website để cung cấp các dịch vụ công cho các DN như: hải quan điện tử, thuế điện tử, chứng nhận xuất xứ điện tử.
TMĐT giữa các cá nhân (C2C): Là loại hình TMĐT giữa các cá nhân với nhau. Người tiêu dùng có thể tự mình tạo website hoặc thông qua các sàn giao dịch sẵn có (như Napster, Ebay.) để thực hiện mua bán, đấu giá các hàng hóa có nhu cầu. TMĐT giữa chính phủ và người tiêu dùng (G2C): Loại hình này không phổ biến vì chủ yếu là các giao dịch mang tính hành chính giữa các cơ quan nhà nước và người dân. Tuy nhiên nó cũng có thể mang những yếu tố của TMĐT như: hoạt động đóng thuế qua mạng, trả phí đăng kí hồ sơ.
Trong các loại hình nói trên thì B2B và B2C là hai loại hình có ý nghĩa nhất vì B2B là loại hình có tỷ trọng giao dịch lớn nhất trong các giao dịchcủa 14 z TMĐT (chiếm khoảng 80%) còn B2C thì lại diễn ra trên diện rộng, thu hút nhiều người tham gia. Những điều kiện để phát triển thương mại điện tử TMĐT bao trùm một phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã hội, hạ tầng của nó là cả một tổng hòa phức hợp: hạ tầng công nghệ; nguồn nhân lực; bảo mật và an toàn; hạ tầng thanh toán tài chính tự động; bảo vệ sở hữu trí tuệ; tác động văn hóa xã hội của internet; lệ thuộc công nghệ. Chúng ta không nên nhìn nhận TMĐT đơn thuần chỉ là dùng phương tiện điện tử để thực hiện các hành động buôn bán truyền thống, mà nên hiểu rằng một khi chấp nhận và ứng dụng TMĐT thì toàn bộ hình thái hoạt động của một nước sẽ thay đổi, cả hệ thống giáo dục, cả tập quán làm việc, cả quan hệ quốc tế,. TMĐT là tổng thể của hàng chục vấn đề phức tạp đan xen nhau trong một mối quan hệ hữu cơ.
Để ứng dụng TMĐT thì việc đầu tiên là cần các chính sách và các quy định của Nhà nước về pháp lý (bảo mật an ninh, công nghệ thông tin, truyền thông, sở hữu trí tuệ, sở hữu của người tiêu dùng, cơ quan xác nhận và công chứng). Tham gia vào phần dịch vụ là các tổ chức như ngân hàng, tổ chức tài chính - tín dụng, tổ chức thẻ (các loại thẻ), các công ty bảo hiểm. Ngoài ra, còn có thể tạo mối liên hệ trực tuyến với quốc tế, thúc đẩy việc trao đổi và lưu thông hàng hóa với bên ngoài tiến tới toàn cầu hóa. Dưới đây sẽ xem xét các điều kiện cần thiết làm tiền đề và môi trường cho hoạt động TMĐT.
Nguồn nhân lực TMĐT có mối quan hệ từ người tiêu thụ tới người sản xuất, phân phối, tới các cơ quan Chính phủ, tới cả các nhà công nghệ.