Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam thời kỳ Covid-19 giai đoạn 2020-2021" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Hương Quỳnh, chuyên ngành Kinh doanh Quốc tế tại Học viện Ngân hàng (năm 2022) dưới sự hướng dẫn của TS. Đoàn Vân Hà.

Lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng sự bùng phát của đại dịch Covid-19 trên quy mô toàn cầu. Đại dịch đã làm gián đoạn nghiêm trọng các kênh giao thương truyền thống, gây đứt gãy chuỗi cung ứng quốc tế. Tại Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm tỷ lệ 97,21% tổng số doanh nghiệp cả nước (theo Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam, 2020), đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới để duy trì hoạt động và tăng trưởng kinh tế. Việt Nam sở hữu tiềm năng phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới (TMĐT XBG) nhờ lợi thế về năng lực sản xuất, nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ dân số trẻ và cộng đồng người dùng Internet phát triển (Gijae Song, 2020). Theo "Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam 2021" của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), tốc độ tăng trưởng TMĐT năm 2020 của Việt Nam đạt mức 18%, với doanh thu bán lẻ đạt 11,8 tỷ USD, là quốc gia duy nhất tại Đông Nam Á ghi nhận mức tăng trưởng hai con số trong năm này. Quy mô kinh tế số Việt Nam được dự báo vượt ngưỡng 52 tỷ USD và xếp thứ ba khu vực ASEAN vào năm 2025 (e-Conomy SEA 2021). Tuy nhiên, nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về TMĐT XBG còn hạn chế, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động xúc tiến TMĐT XBG trong bối cảnh đại dịch còn ít.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích ảnh hưởng, rào cản và lợi ích của việc áp dụng TMĐT XBG; đánh giá các yếu tố phát triển TMĐT XBG tại Việt Nam giai đoạn 2020-2021; từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp xuất khẩu và nhà cung cấp dịch vụ nhằm đẩy mạnh quảng bá sản phẩm Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Các câu hỏi nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản gồm:

  1. Mức độ tăng trưởng và ảnh hưởng của ngành TMĐT đã có những tác động như thế nào đến các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2020-2021?
  2. Các doanh nghiệp Việt Nam có nên tham gia vào TMĐT XBG không? Những lợi ích nhận được từ TMĐT XBG?
  3. Các nhà xuất khẩu Việt Nam có thể áp dụng TMĐT để quảng bá sản phẩm ra thị trường quốc tế bằng những phương tiện nào?
  4. Cơ hội và mối đe dọa đối với TMĐT XBG Việt Nam trong thời kỳ Covid-19 giai đoạn 2020-2021 là gì?

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống TMĐT XBG tại Việt Nam và thực trạng hoạt động bán hàng quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam qua các nền tảng trực tuyến, tập trung vào hai mô hình xuất khẩu chính là doanh nghiệp tới người tiêu dùng (B2C) và doanh nghiệp tới doanh nghiệp (B2B). Phạm vi nghiên cứu về không gian là thị trường Việt Nam (có đối chiếu bài học thực tiễn từ Mỹ và Trung Quốc); phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trong hai năm 2020-2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về khung lý thuyết và cơ sở pháp lý, tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng:

  • Thương mại điện tử: Dẫn chiếu định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Ủy ban châu Âu (EC) và Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam về hoạt động TMĐT.
  • Thương mại điện tử xuyên biên giới: Dẫn chiếu định nghĩa của Arkadiusz & Wojciech (2016) và Azoya International Ltd. về hoạt động mua sắm trực tuyến từ nước ngoài, vượt qua các ranh giới địa lý, khu vực pháp lý và rào cản ngôn ngữ.
  • Xúc tiến thương mại điện tử: Sử dụng tài liệu học tập của Khoa Thương mại điện tử (Trường Đại học Thương mại) và định nghĩa của Phòng Xúc tiến Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (Trung tâm Xúc tiến Thương mại Việt Ấn).
  • Các kênh TMĐT XBG: Áp dụng phân loại 4 kênh phân phối chính của Thomas A. Cook & Kelly Raia (2017) trong tài liệu Mastering Import and Export Management (3rd edition), bao gồm: bán hàng qua mạng xã hội, bán qua website tự quản lý, bán qua sàn giao dịch TMĐT và bán cho đối tác/nhà phân phối tại thị trường mục tiêu.
  • Hệ thống kinh tế TMĐT XBG: Mô hình của Yanan Zuo (2019) bao gồm 3 phần (chủ thể, môi trường, mối quan hệ) và 3 cộng đồng (cộng đồng giao dịch, cộng đồng dịch vụ, cộng đồng hỗ trợ).
  • Hệ thống logistics và thanh toán: Mô hình chuỗi giá trị logistics TMĐT XBG của Zhao, X. (2019); hai phương án vận hành logistics của Benedict Leong (2020) gồm vận chuyển xuyên biên giới trực tiếp và mô hình phân phối địa phương (sử dụng kho bãi 3PL); quy trình vận hành 5 bước của cổng thanh toán điện tử theo Ajinkya Rao (2019) cùng các phương thức B2B như thư tín dụng (L/C), chuyển tiền bằng điện (TTR) và thư tín dụng điện tử.
  • Rào cản giao dịch xuyên biên giới: Dẫn chứng nghiên cứu của Bas van Heel và cộng sự (2014), Ủy ban Thương mại Quốc gia Thụy Điển và báo cáo của Liên minh châu Âu (2014) về các rào cản thanh toán, thuế giá trị gia tăng (GTGT), tính minh bạch bưu kiện, thời gian vận chuyển và quy trình đổi trả hàng.

Phương pháp nghiên cứu chính được tác giả sử dụng là phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk research) kết hợp phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu (tổng - phân - hợp). Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), báo cáo e-Conomy SEA (Google, Temasek, Bain & Company), công ty nghiên cứu iPrice Insights, We Are Social & Hootsuite, Digital Commerce 360, Trung tâm Thông tin Mạng Internet Trung Quốc (CNNIC) và các bài báo khoa học quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý thuyết về xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới

Chương I trình bày tổng quan lý luận về TMĐT XBG, hệ thống kinh tế hỗ trợ và hoạt động xúc tiến thương mại điện tử, đồng thời đúc kết bài học kinh nghiệm từ Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Tác giả chỉ ra 5 đặc điểm cốt lõi của TMĐT XBG: hình thức giao dịch trực tuyến không tiếp xúc trực tiếp; phạm vi hoạt động phi biên giới; có sự tham gia của bên thứ ba (nhà cung cấp dịch vụ mạng, cơ quan chứng thực); quy trình và thời gian giao dịch được tối ưu hóa; phương thức thanh toán điện tử đa dạng (thẻ ngân hàng, ví điện tử, cổng thanh toán trực tuyến). Các lợi ích của TMĐT XBG được phân tích gồm: mở rộng thị trường quốc tế, gia tăng doanh thu, nâng cao nhận thức thương hiệu, tiêu thụ các mặt hàng có nhu cầu nội địa thấp, tiếp cận người tiêu dùng cuối và củng cố tính bền vững của doanh nghiệp.

Về xúc tiến TMĐT, chương này làm rõ các đặc điểm (tiến hành trên môi trường mạng, không giới hạn địa lý, hoạt động 24/7) và vai trò trong việc mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. Các hình thức xúc tiến được phân tích chi tiết gồm:

  • Thiết lập gian hàng trực tuyến trên các sàn TMĐT.
  • Tổ chức hội chợ, triển lãm thực tế ảo ứng dụng công nghệ 3D.
  • Ứng dụng công nghệ livestream bán hàng trực tiếp (phục vụ cả B2C lẫn B2B).
  • Tổ chức hội nghị giao thương trực tuyến qua các nền tảng Zoom, Google Meet và xúc tiến qua mạng xã hội kết hợp người có sức ảnh hưởng (KOL).

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế:

  • Tại Hoa Kỳ: Doanh số mua sắm trực tuyến năm 2021 đạt 870,78 tỷ USD (tăng từ 762,68 tỷ USD năm 2020), chiếm thị phần 19,1% trong tổng doanh số bán lẻ (theo Digital Commerce 360). Các doanh nghiệp như Amazon phát triển mạnh mẽ nhờ thông tin sản phẩm chuẩn hóa, tiếp thị liên kết và hạ tầng điện toán đám mây. Chính quyền Tổng thống Joe Biden thực hiện các chính sách hỗ trợ DNVVN và củng cố niềm tin tiêu dùng.
  • Tại Trung Quốc: Đến cuối năm 2020, số lượng người dùng Internet đạt 989 triệu người (tăng 9,4%), số người mua sắm trực tuyến đạt 782 triệu người (tăng 10,16%), doanh số bán lẻ trực tuyến đạt 9,76 nghìn tỷ Nhân dân tệ (tăng 14,49% theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc). Hoạt động livestream bán hàng trên Taobao, JD.com, TikTok bùng nổ; mô hình sản xuất C2M (Customer-to-Manufacturer) tiêu biểu như Alibaba Rhino Intelligent Manufacturing được triển khai. Về phía Chính phủ Trung Quốc, vào tháng 4/2020 đã phê duyệt thêm 46 khu thí điểm toàn diện TMĐT XBG (nâng tổng số lên 150 khu), ban hành chính sách miễn thuế cho sản phẩm có thuế suất dưới 50 NDT, giảm thuế GTGT và áp dụng mô hình cổng dịch vụ công thông quan một cửa.

Chương II: Thực trạng xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 giai đoạn 2020-2021

Chương II phân tích thực trạng kinh tế vĩ mô và sự phát triển của TMĐT tại Việt Nam trước và trong thời kỳ đại dịch Covid-19.

Về bối cảnh kinh tế Việt Nam:

  • Năm 2020: Tăng trưởng GDP đạt 2,91% (thuộc nhóm tăng trưởng dương hiếm hoi trên thế giới), quy mô kinh tế đạt hơn 343 tỷ USD (đứng thứ 4 Đông Nam Á). Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 281,5 tỷ USD (tăng 6,5%), xuất siêu kỷ lục đạt 19,1 tỷ USD, duy trì xuất siêu 5 năm liên tiếp (2016-2020). Kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 34,8 tỷ USD nhờ thực thi Hiệp định EVFTA (trong đó 5 tháng cuối năm đạt 15,4 tỷ USD, tăng 1,6%).
  • Năm 2021: Tăng trưởng GDP đạt 2,58%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD (tăng 22,6%), trong đó xuất khẩu tăng 19%, nhập khẩu tăng 26,5%, cán cân thương mại xuất siêu 4,08 tỷ USD. Các doanh nghiệp áp dụng mô hình "3 tại chỗ" và "1 cung đường - 2 điểm đến" để ứng phó với làn sóng dịch thứ tư.

Về sự phát triển của TMĐT Việt Nam:

  • Giai đoạn trước Covid-19 (2015-2019): Quy mô TMĐT B2C tăng từ khoảng 4 tỷ USD (2015) lên 8,06 tỷ USD (2018), đạt 10,8 tỷ USD (2019) với 44,8 triệu người tham gia mua sắm trực tuyến, tỷ lệ người dùng Internet đạt 66%. Năm 2019, các danh mục mua sắm phổ biến gồm Thực phẩm & Đồ dùng cá nhân (24%), Mẹ & Bé (20%), Nhà ở & Đời sống (19%), Thời trang & Làm đẹp (17%).
  • Giai đoạn 2020-2021: Năm 2020, doanh thu TMĐT chiếm 5,5% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng; thanh toán qua Internet và điện thoại di động tăng 238%, người dùng thanh toán điện tử đạt 36,2 triệu người (theo Báo cáo Landscape 2020). Năm 2021, theo We Are Social, chi tiêu TMĐT theo ngành hàng gồm: Dịch vụ & Du lịch (3,18 tỷ USD), Điện tử (1,57 tỷ USD), Thời trang & Làm đẹp (1,44 tỷ USD), Đồ nội thất & Thiết bị gia dụng (1,09 tỷ USD), Thực phẩm & Đồ dùng cá nhân (1,02 tỷ USD). Báo cáo của Lazada ghi nhận quy mô TMĐT Việt Nam năm 2021 đạt 13,7 tỷ USD, có 40% người bán hàng mới đến từ khu vực phi thành thị (Hà Nội chiếm 29%, TP.HCM chiếm 31%).
Sàn TMĐT Lượt truy cập web bình quân Quý IV/2020 (triệu lượt/tháng) Lượt truy cập web bình quân Quý IV/2021 (triệu lượt/tháng) Xu hướng biến động
Shopee 68,0 > 88,0 Tăng 29,7%
Lazada 20,8 > 20,0 Giữ vị trí thứ 2
Tiki 22,2 > 17,0 Giảm 19,7%
Sendo 11,0 ~ 5,0 Giảm 55,8% (còn 44,2% so với 2020)

Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu báo cáo iPrice Insights trong khóa luận

Bên cạnh sự tăng trưởng, chương II chỉ ra các hạn chế trong hoạt động xúc tiến TMĐT XBG của doanh nghiệp Việt Nam: nhận thức về xuất khẩu trực tuyến chưa đồng đều; năng lực quản trị gian hàng số, xây dựng website tự quản và triển khai mô hình đa kênh (Omni Channel) còn yếu; chi phí logistics quốc tế cao và thủ tục pháp lý, hoàn thuế, thanh toán xuyên biên giới còn nhiều rào cản.

Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao việc xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Chương III phân tích các cơ hội (sự bùng nổ của kinh tế số, các hiệp định thương mại tự do EVFTA, CPTPP, UKVFTA) cùng các thách thức (cạnh tranh quốc tế, rào cản kỹ thuật, rủi ro đứt gãy vận tải), từ đó đưa ra 5 nhóm giải pháp và các kiến nghị cụ thể:

  1. Các nhóm giải pháp:
  • Cải thiện hệ thống kinh tế TMĐT XBG: Tối ưu hóa sự phối hợp giữa cộng đồng giao dịch, cộng đồng dịch vụ và cộng đồng hỗ trợ; hoàn thiện hạ tầng công nghệ và cổng thanh toán quốc tế.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo kỹ năng quản trị TMĐT, tiếp thị số, ngoại ngữ và nghiệp vụ xử lý đơn hàng quốc tế cho đội ngũ nhân sự.
  • Nâng cao hiệu quả hoạt động TMĐT XBG: Tận dụng các sàn giao dịch quốc tế lớn (Amazon, Alibaba), xây dựng website bán hàng chuẩn hóa đa ngôn ngữ và khai thác bán hàng qua livestream, mạng xã hội.
  • Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp: Tuyên truyền, phổ biến kiến thức về quy trình xuất khẩu qua TMĐT XBG và các hiệp định thương mại tự do.
  • Nâng cao năng lực cạnh tranh: Chú trọng chất lượng sản phẩm, quy chuẩn bao bì, chứng nhận xuất xứ và xây dựng thương hiệu trực tuyến.
  1. Hệ thống kiến nghị:
  • Đối với Chính phủ và các bộ ngành: Xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển TMĐT XBG cấp quốc gia; thành lập các khu thí điểm TMĐT XBG; ban hành quy định đơn giản hóa thủ tục thông quan và kiểm tra chuyên ngành; hỗ trợ chính sách thuế cho hàng hóa xuất khẩu qua TMĐT.
  • Đối với doanh nghiệp xuất khẩu: Nghiên cứu kỹ thị hiếu thị trường mục tiêu; lựa chọn mô hình logistics phù hợp (vận chuyển trực tiếp hoặc lưu kho địa phương 3PL); đầu tư bài bản vào hình ảnh, nội dung sản phẩm và dịch vụ chăm sóc khách hàng sau bán hàng.
  • Đối với các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam: Phát triển dịch vụ logistics trọn gói tích hợp, mở rộng kết nối cổng thanh toán an toàn và cung cấp các giải pháp phần mềm hỗ trợ quản lý bán hàng đa kênh.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả, khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu thực chứng phản ánh bức tranh kinh tế và TMĐT Việt Nam giai đoạn 2020-2021:

Chỉ tiêu nghiên cứu Năm 2020 Năm 2021 Nguồn số liệu dẫn chứng trong văn bản
Tăng trưởng GDP 2,91% 2,58% Tổng cục Thống kê Việt Nam
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 281,5 tỷ USD Tăng 19% (Tổng XNK 668,5 tỷ USD) Tổng cục Thống kê Việt Nam
Cán cân thương mại (Xuất siêu) 19,1 tỷ USD 4,08 tỷ USD Tổng cục Thống kê Việt Nam
Quy mô thị trường TMĐT Việt Nam 11,8 tỷ USD (Bán lẻ B2C) / 8 tỷ USD 13,7 tỷ USD iDEA (Bộ Công Thương) / e-Conomy SEA
Tăng trưởng giao dịch Internet & Di động Tăng 238% - Báo cáo Landscape 2020
Người dùng thanh toán điện tử 36,2 triệu người - Báo cáo Landscape 2020

Về đóng góp, công trình đã:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xúc tiến TMĐT XBG, cấu trúc hệ thống kinh tế và chuỗi cung ứng logistics phục vụ xuất khẩu trực tuyến.
  • Phân tích kinh nghiệm thực tiễn từ hai thị trường lớn là Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ đó rút ra các bài học về chính sách công và chiến lược doanh nghiệp.
  • Lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng việc đánh giá thực trạng ứng dụng TMĐT XBG của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn biến động của đại dịch Covid-19, đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ cho ba chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu và đơn vị cung ứng dịch vụ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo công bố công khai, chưa thực hiện điều tra khảo sát định lượng sơ cấp quy mô lớn đối với các nhóm doanh nghiệp xuất khẩu cụ thể. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào hai năm cao điểm dịch bệnh 2020-2021. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực nghiệm định lượng về mức độ thích ứng, rào cản chi phí logistics và hiệu quả kinh doanh của các DNVVN trên các sàn TMĐT quốc tế trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid-19.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh doanh Quốc tế, Thương mại điện tử và Kinh tế quốc tế khi nghiên cứu về chuỗi cung ứng TMĐT XBG và xúc tiến thương mại số. Nội dung khóa luận cung cấp các phân tích thực tế về kênh bán hàng, rào cản logistics, quy trình thanh toán quốc tế và bài học chính sách từ Mỹ, Trung Quốc, hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ tại Việt Nam trong việc xây dựng phương án xuất khẩu qua nền tảng số.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tốc độ tăng trưởng và quy mô doanh thu của TMĐT Việt Nam năm 2020 như thế nào?
Theo số liệu từ "Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam 2021" của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số được trích dẫn trong khóa luận, tốc độ tăng trưởng TMĐT năm 2020 của Việt Nam đạt mức 18%, doanh thu bán lẻ đạt 11,8 tỷ USD và là quốc gia duy nhất tại Đông Nam Á đạt mức tăng trưởng TMĐT hai con số trong năm này. Theo báo cáo e-Conomy SEA 2020, quy mô thị trường TMĐT Việt Nam đạt trị giá 8 tỷ USD, tăng trưởng 46% so với năm 2019.

2. Bốn kênh thương mại điện tử xuyên biên giới chính được tác giả hệ thống hóa gồm những hình thức nào?
Dẫn chiếu theo nghiên cứu của Thomas A. Cook & Kelly Raia (2017), 4 kênh TMĐT XBG chính gồm: (1) Bán hàng trên nền tảng mạng xã hội; (2) Bán hàng trên trang web tự quản lý của doanh nghiệp; (3) Bán hàng trên các sàn giao dịch thương mại điện tử (như sàn đấu giá, thủ công mỹ nghệ, bán buôn/bán lẻ); (4) Bán buôn cho các đối tác, nhà phân phối tại thị trường mục tiêu (B2B).

3. Quy trình vận hành của cổng thanh toán điện tử trong TMĐT gồm những bước nào theo nghiên cứu?
Theo mô hình của Ajinkya Rao (2019) được trình bày trong khóa luận, quy trình gồm 5 bước: (1) Khách hàng đặt hàng và gửi thanh toán trên website; (2) Người bán chuyển thông tin an toàn đến cổng thanh toán, giao dịch chuyển đến ngân hàng phát hành hoặc trang 3D Secure để xác thực; (3) Ngân hàng ủy quyền hoặc từ chối giao dịch; (4) Cổng thanh toán gửi thông báo kết quả đến người bán; (5) Ngân hàng tất toán tiền với cổng thanh toán, sau đó cổng thanh toán quyết toán cho đơn vị bán hàng.

4. Lưu lượng truy cập hàng tháng của các sàn TMĐT hàng đầu tại Việt Nam biến động ra sao giữa quý IV/2020 và quý IV/2021?
Theo số liệu iPrice Insights trong khóa luận: Shopee duy trì vị trí dẫn đầu, tăng từ 68 triệu lượt/tháng (quý IV/2020) lên hơn 88 triệu lượt/tháng (quý IV/2021, tăng 29,7%). Lazada duy trì hơn 20 triệu lượt/tháng và vươn lên vị trí thứ hai vào quý IV/2021. Tiki giảm từ 22,2 triệu lượt/tháng (quý IV/2020) xuống hơn 17 triệu lượt/tháng (quý IV/2021, giảm 19,7%). Sendo giảm từ 11 triệu lượt/tháng xuống gần 5 triệu lượt/tháng (chỉ bằng 44,2% so với năm 2020).

5. Những bài học kinh nghiệm chính từ chính sách phát triển TMĐT XBG của Trung Quốc được đúc kết là gì?
Khóa luận đúc kết 3 bài học chính từ Trung Quốc: (1) Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi toàn diện, thành lập 150 khu thí điểm TMĐT XBG, miễn/giảm thuế GTGT và đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành; (2) Xây dựng mạng lưới thanh toán, logistics tích hợp hỗ trợ chuỗi cung ứng ngắn gọn và phát triển mô hình sản xuất C2M; (3) Vận hành mô hình cổng dịch vụ công điện tử kết nối dữ liệu đơn hàng, vận chuyển, thanh toán trực tiếp với cơ quan hải quan để thông quan nhanh chóng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hương Quỳnh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thương mại điện tử xuyên biên giới và phân tích thực trạng xúc tiến xuất khẩu trực tuyến của Việt Nam trong giai đoạn Covid-19 (2020-2021). Bằng việc tổng hợp các dữ liệu thực chứng vĩ mô, biến động thị trường TMĐT và bài học kinh nghiệm từ Hoa Kỳ và Trung Quốc, công trình đã làm rõ các rào cản về logistics, thanh toán và năng lực số của DNVVN Việt Nam. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất cung cấp cơ sở tham khảo cho việc hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước và xây dựng chiến lược xúc tiến thương mại số cho doanh nghiệp xuất khẩu.