CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ XUYÊN BIÊN GIỚI 1. Tổng quan về thương mại điện tử xuyên biên giới: 1. Khái niệm về thương mại điện tử và thương mại điện tử xuyên biên giới: 1. Khái niệm thương mại điện tử: Thuật ngữ TMĐT được đặt ra từ những năm 1960, với sự phát triển của TMĐT được thực hiện nhờ sự ra đời của trao đổi dữ liệu điện tử (James Morrish, 2020).
Năm mươi năm trôi qua và TMĐT đã được kiểm chứng trên mọi khía cạnh. Trong phần này, tác giả sẽ trình bày những kiến thức tổng thể về TMĐT, từ định nghĩa TMĐT do các tổ chức khác nhau đưa ra đến các đặc điểm của TMĐT và phân loại TMĐT. Trong khi kinh doanh điện tử đề cập đến tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh doanh trực tuyến, thì TMĐT chỉ đề cập cụ thể đến giao dịch hàng hóa và dịch vụ. Có nhiều định nghĩa khác nhau về TMĐT của nhiều tổ chức trên thế giới: ● Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): “ TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như thông tin số hóa thông qua mạng Internet.” ● Theo Ủy ban châu Âu: “TMĐT có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến).
Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và giao dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công.” ● Ngày 16/5/2013, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT, trong đó tại Khoản 1 Điều 3 có giải thích rõ: “ Hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.” 6 Qua các khái niệm, định nghĩa trên ta có thể kết luận được rằng TMĐT về cơ bản được hiểu là hình thức thực hiện, quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp với sự trợ giúp của các phương tiện điện tử và mạng viễn thông. Có rất nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động TMĐT như: các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận chuyển, các doanh nghiệp cung cấp sàn TMĐT,. Ngoài ra còn có các kênh thanh toán và dịch vụ ví điện tử đảm bảo quá trình xử lý thanh toán nhanh chóng, dễ dàng và thuận tiện. Khái niệm thương mại điện tử xuyên biên giới: TMĐT cũng giống như Internet, đều có đặc điểm là phi biên giới, vì vậy khách hàng có thể mua sắm thông qua Internet ở khắp nơi trên thế giới.
Mặc dù hầu hết các khách hàng mua sắm trực tuyến vẫn có thói quen lựa chọn các cửa hàng trực tuyến trong nước, nhưng việc mua hàng từ các cửa hàng nước ngoài cũng được khách hàng dần đón nhận. Đây được gọi là hoạt động TMĐT XBG. (Arkadiusz & Wojciech 2016) Thuật ngữ TMĐT XBG không có sự khác biệt quá lớn so với thuật ngữ TMĐT nói trên. Nó chỉ mở rộng phạm vi của thuật ngữ đề thể hiện thêm một khía cạnh của TMĐT đó là không biên giới, nhờ vào sự phát triển và phổ biến của Internet.
Theo Azoya International Ltd., TMĐT XBG được định nghĩa là: “ hoạt động mua hàng trực tuyến từ nước ngoài, thường là từ các doanh nghiệp hoạt động ở các quốc gia khác nhau, các khu vực pháp lý khác nhau, thậm chí là các ngôn ngữ và công nghệ truyền thông khác nhau trong những thập kỷ qua. Đặc điểm của thương mại điện tử xuyên biên giới: Vì thuật ngữ TMĐT XBG chỉ là sự mở rộng về phạm vi của thuật ngữ TMĐT. Vì vậy TMĐT XBG cũng bao gồm các hoạt động như quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm thông qua các phương tiện điện tử với quy trình thanh toán thông qua Internet,. và có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về hình thức: Các giao dịch trong TMĐT XBG là hoàn toàn thông qua mạng Internet.
Vì vậy các bên thực hiện giao dịch TMĐT XBG không tiếp xúc trực tiếp với nhau, thay vào đó họ sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng 7 Internet để có thể đàm phán và giao dịch được với nhau. Từ đó các doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào giao dịch TMĐT XBG có thể tối ưu hóa thời gian, chi phí đi lại, quy trình thương lượng và đẩy nhanh quá trình giao dịch. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng tạo nên hạn chế cho TMĐT XBG, do không thể giao dịch trực tiếp với nhau nên làm giảm lòng tin giữa người mua và người bán, điều này đôi khi gây trở ngại cho quá trình thực hiện giao dịch. Thứ hai, về phạm vi hoạt động: Trong TMĐT XBG không tồn tại khái niệm “ranh giới địa lý”, vì vậy thị trường TMĐT XBG là thị trường phi biên giới.
Do tính dễ truy cập của TMĐT đã tạo điều kiện cho các thương nhân có thể hướng tới việc bán hàng trên toàn cầu. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhỏ thì TMĐT XBG chính là công cụ hữu hiệu không chỉ giúp họ mở rộng thị trường trong nước mà cả thị trường quốc tế. Thứ ba, về các chủ thể tham gia: Trong TMĐT một giao dịch phải có ít nhất ba chủ thể tham gia bao gồm: người mua, người bán và phải có thêm bên thứ ba là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT XBG, là nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực. Vai trò của bên thứ ba là chuyển đi, lưu trữ các thông tin giữa các bên tham gia vào giao dịch TMĐT XBG, đồng thời xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT XBG.
Từ đó khắc phục vấn đề lòng tin trong TMĐT XBG cũng như giảm thiểu rủi ro cho các bên tham gia. Thứ tư, thời gian thực hiện giao dịch: Khi truy cập vào hệ thống TMĐT XBG, các bộ phận kinh doanh hoàn toàn nắm được quy trình và trạng thái thực hiện đơn hàng mà không phải thực hiện thêm các thao tác như gửi email, gọi điện, gửi fax,. Như vậy so với giao dịch truyền thống bao gồm đi đàm phán, ký kết hợp đồng hay đến ngân hàng để chuyển tiền,. Việc sử dụng TMĐT XBG giúp đơn giản hóa thủ tục và giảm thiểu thời gian cho các bên tham gia giao dịch.
Cuối cùng, các phương thức thanh toán trong TMĐT XBG rất đa dạng. Các phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến hiện nay trong TMĐT XBG bao gồm: ví điện tử, Mobile Banking, thanh toán bằng thẻ, thẻ mua hàng, thanh toán bằng séc trực tuyến, thanh toán qua cổng thanh toán điện tử, chuyển tiền điện tử (EFT - Electronic Fund Transferring). Trong số các phương tiện thanh toán điện tử hiện nay, 8 thì thẻ thanh toán vẫn được coi là phương tiện phổ biến nhất, đặc biệt là thẻ tín dụng do tính tiện lợi và phổ biến. Các kênh thương mại điện tử xuyên biên giới: Theo Thomas A.Cook & Kelly Raia đã đề cập trong quyển “Mastering Import and Export Management 3rd edition” ,về tổng quan có bốn tùy chọn kênh chính liên quan đến TMĐT, những mục được đánh dấu “**” là các yếu tố có thể có tác động tiêu cực đến chiến lược thâm nhập thị trường tổng thể của doanh nghiệp Bảng 1.
Các kênh thương mại điện tử xuyên biên giới Bán hàng trên nền tảng mạng xã hội Bán hàng trên trang web của chính Dữ liệu và thiết kế riêng mình Nội dung linh hoạt Tận dụng tính xác thực Kiểm soát thương hiệu Vượt qua một số rào cản thị trường Quyền tự chủ về giá Tự phân tích ** Lưu lượng bán hàng ít ** Không nhận diện được thương hiệu / ** Tùy chọn ngôn ngữ bản địa hóa lưu lượng truy cập ở nước ngoài ** Dịch vụ logistics của bên thứ ba ** Cần có cổng thanh toán ** Cổng thanh toán của bên thứ ba ** Yêu cầu về đối tác logistics ** Hỗ trợ kỹ thuật nội bộ ** Thiếu các tùy chọn dịch vụ hậu mãi 9 Bán hàng trên các sàn giao dịch Bán cho các nhà phân phối tại thị trường thương mại điện tử mục tiêu (B2B) Nhiều lưu lượng khách hàng Mua sắm sản phẩm ngay lập tức Nội dung bằng ngôn ngữ địa phương Giao dịch đơn giản/ít giao dịch hơn Có thể nhận thanh toán bằng nhiều đơn ** Lợi nhuận nhỏ hơn vị tiền tệ khác nhau ** Quá trình rà soát Phụ thuộc vào dịch vụ sau bán hàng tại ** Thương lượng trực tiếp địa phương ** Quản lý thương hiệu từ xa ** Nhiều sự cạnh tranh ** Thiếu khả năng kiểm soát giá ** Thiếu sự kiểm soát dữ liệu khách hàng Nguồn:Thomas A.Cook & Kelly Raia (2017) Tóm lại để có thể bán hàng ra nước ngoài, người bán hàng trực tuyến có thể bán hàng trên mạng xã hội, từ trang web tự quản lý, trên thị trường trực tuyến hoặc bán hàng cho đối tác tại thị trường mục tiêu. Bán hàng trên phương tiện truyền thông xã hội, còn được gọi là bán hàng qua mạng xã hội, là khi các doanh nghiệp chọn tải lên và bán sản phẩm của họ trên nền tảng xã hội. Sau đó, họ sử dụng nền tảng đó như một phương tiện để tiếp cận khách hàng và bán cho họ thông qua phương tiện truyền thông xã hội thay vì trang web. Ví dụ như việc các shop quần áo ở Việt Nam hiện nay đang sử dụng Tiktok như một nền tảng để tiếp cận và bán hàng có khách hàng.
Đầu tiên họ sẽ bỏ một khoản chi phí để trả cho KOL, KOL đó sẽ có nhiệm vụ review sản phẩm của các shop và dẫn đường link mua hàng cho người xem video của họ. Bán hàng từ trang web giao dịch tự quản lý: các doanh nghiệp xây dựng trang web của riêng họ thực hiện các giao dịch “đầu cuối” đầy đủ thông qua trang web, cho 10 phép khách hàng tìm kiếm, đặt hàng và thanh toán các sản phẩm trực tuyến cũng như cho phép họ liên hệ với công ty cho dịch vụ sau bán hàng. Bán trên các nền tảng giao dịch TMĐT: các doanh nghiệp bán các sản phẩm của họ trên một website điện tử, nơi mà cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu của website có thể tiến hành toàn bộ hoặc một phần quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên website đó.