Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự hình thành và phát triển của Internet cùng công nghệ thông tin từ những thập niên cuối thế kỷ XX đã thúc đẩy sự ra đời của phương thức thương mại điện tử, làm thay đổi căn bản hành vi tiêu dùng và mở rộng không gian kinh doanh trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, các giao dịch thương mại điện tử đã vượt qua ranh giới quốc gia, hình thành nên thương mại điện tử xuyên biên giới. Tại Việt Nam, thị trường thương mại điện tử nội địa duy trì tốc độ tăng trưởng trên 20% mỗi năm, song lĩnh vực thương mại điện tử xuyên biên giới vẫn là phương thức tương đối mới mẻ, đứng trước nhiều rào cản về cơ sở hạ tầng, chi phí logistics, quy trình hải quan và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhằm đánh giá toàn diện thực trạng và tìm kiếm giải pháp thúc đẩy phương thức này, đề tài "Xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" đã được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận bao gồm ba nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thương mại điện tử, thương mại điện tử xuyên biên giới và các hoạt động xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới.
- Khảo sát và phân tích thực trạng các hoạt động xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam từ phía các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các tổ chức cung cấp sàn giao dịch điện tử trong giai đoạn 2015–2019, kết hợp điều tra thực nghiệm về nhu cầu mua sắm hàng nước ngoài của người tiêu dùng.
- Đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thương mại điện tử xuyên biên giới và các hoạt động xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam trong mối quan hệ giao thương quốc tế.
- Phạm vi thời gian: Các dữ liệu và sự kiện thực tế tập trung phân tích trong giai đoạn từ năm 2015 đến đầu năm 2019, với các định hướng và giải pháp đề xuất đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên hệ thống khái niệm, văn bản quy phạm pháp luật và lý thuyết thương mại quốc tế:
- Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa hẹp, nghĩa rộng, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam và định nghĩa của các tổ chức quốc tế: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD/UNCITAD), Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Hiệp hội Thương mại Điện tử (AEC) và Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL).
- Các mô hình giao dịch thương mại điện tử cơ bản: B2B, B2C, C2C, B2G, C2B; trong đó hai mô hình trọng tâm được phân tích là B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp) và B2C (doanh nghiệp với người tiêu dùng).
- Khái niệm xúc tiến thương mại theo quan điểm của Philip Kotler, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam và Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC).
- Khái niệm xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới: Bao gồm các biện pháp tác động, hỗ trợ và khuyến khích hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ qua các phương tiện điện tử kết nối mạng.
- Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới:
- Nhân tố bên trong doanh nghiệp: Tính chất và sự phù hợp của sản phẩm với thị trường mục tiêu; chiến lược xúc tiến; trình độ am hiểu công nghệ và năng lực nguồn nhân lực.
- Nhân tố bên ngoài: Xu hướng phát triển công nghệ và mạng Internet; hạ tầng kỹ thuật viễn thông; chính sách pháp lý cấp quốc gia và quốc tế; năng lực của hệ thống logistics; mức độ cạnh tranh trên thị trường.
Phương pháp nghiên cứu được áp dụng:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích định tính và so sánh đối chiếu.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tuyến qua công cụ Google Biểu mẫu (Google Forms) từ ngày 26/03/2019 đến ngày 30/04/2019. Mẫu khảo sát thu về 219 phản hồi, trong đó có 192 phản hồi hợp lệ được đưa vào xử lý dữ liệu.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ các báo cáo chuyên ngành gồm Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam (EBI) các năm 2017, 2018, 2019 của Bộ Công Thương và Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM); Báo cáo Logistics Việt Nam 2018 của Bộ Công Thương; số liệu từ VECITA, Appota, Speedtest.net, W&S, iprice; các công trình nghiên cứu trong nước (Đào Thị Thu Hiền, 2008; Bùi Đức Tuấn, 2008; Vũ Thu Hà, 2014) và nghiên cứu quốc tế (Feng Ding et al.; Jianzheng Yang et al., 2014; Bas Van Heel et al., 2014; Mikio Kuwayama; Shu-Chun Ho et al., 2015; Estrella Gomez-Herrera et al., 2013).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới
Chương này trình bày tổng quan lý thuyết về thương mại điện tử, thương mại điện tử xuyên biên giới và bản chất của hoạt động xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới. Tác giả phân tích 9 đặc trưng cơ bản của thương mại điện tử (giao dịch qua phương thức điện tử; gắn liền thương mại truyền thống; phụ thuộc mạng máy tính và Internet; tốc độ xử lý nhanh; không bắt buộc gặp mặt trực tiếp; thị trường toàn cầu không biên giới; sự tham gia của tối thiểu 3 chủ thể; hệ thống thông tin đóng vai trò là thị trường; phụ thuộc vào trình độ công nghệ thông tin và mức độ số hóa).
Khóa luận làm rõ sự khác biệt giữa thương mại điện tử và thương mại truyền thống thông qua bảng so sánh tổng hợp:
| Tiêu chí so sánh |
Thương mại điện tử |
Thương mại truyền thống |
| Hình thức giao dịch |
Gián tiếp thông qua phương tiện điện tử |
Gặp mặt trực tiếp |
| Chủ thể tham gia |
Tối thiểu 3 chủ thể: người bán, người mua, nhà cung cấp dịch vụ mạng |
Tối thiểu 2 chủ thể: người mua và người bán |
| Tìm kiếm thị trường |
Không giới hạn biên giới, tìm kiếm qua mạng máy tính |
Bó hẹp phạm vi, tham gia hội chợ, triển lãm trực tiếp |
| Mạng lưới thông tin |
Mạng lưới thông tin chính là thị trường |
Mạng lưới thông tin là công cụ trao đổi dữ liệu |
| Tốc độ giao dịch |
Tốc độ xử lý nhanh |
Tốc độ xử lý chậm hơn |
| Thời gian giao dịch |
Không giới hạn thời gian (vận hành 24/7) |
Phụ thuộc vào giờ mở cửa của điểm bán |
| Phương thức thanh toán |
Tiền điện tử, chuyển khoản số hóa, thanh toán điện tử |
Tiền mặt, séc, hối phiếu, giao dịch ngân hàng truyền thống |
| Hình thức giao nhận |
Giao nhận số hóa đối với sản phẩm số; vận tải vật lý đối với hàng hữu hình |
Giao nhận bằng phương tiện vận tải vật lý |
| Chi phí giao dịch |
Tiết kiệm chi phí vận hành, mặt bằng và nhân lực |
Chi phí vận hành, thuê địa điểm và trung gian cao hơn |
Bên cạnh các lợi ích về việc mở rộng thị trường, cắt giảm chi phí trung gian và gia tăng nhận diện thương hiệu, tác giả chỉ ra các nhóm rủi ro điển hình trong thương mại điện tử xuyên biên giới gồm: rủi ro tài chính, rủi ro gian lận giao dịch, rủi ro pháp lý - văn hóa và rủi ro an toàn thông tin. Về mặt chủ thể xúc tiến, tác giả phân chia thành hoạt động của Nhà nước (hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng hạ tầng, cải cách dịch vụ công, đàm phán hiệp định quốc tế), hoạt động của doanh nghiệp xuất nhập khẩu (sử dụng thư điện tử, website, sàn thương mại điện tử) và hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch.
Chương 2: Thực trạng xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam
Chương 2 cung cấp bức tranh chi tiết về thực trạng thị trường và các hoạt động xúc tiến tại Việt Nam giai đoạn 2015–2019:
- Bối cảnh thị trường: Dân số Việt Nam năm 2018 đạt 96,95 triệu người, trong đó có hơn 64 triệu người sử dụng Internet (chiếm 66,65% dân số). Doanh thu thương mại điện tử B2C tăng trưởng từ 6,2 tỷ USD năm 2017 lên 8 tỷ USD năm 2018 (tăng 29%), chiếm 3,6% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Việt Nam xếp thứ 4 tại Đông Nam Á về doanh thu thương mại điện tử năm 2018 với 2,733 tỷ USD.
- Tình hình hạ tầng doanh nghiệp và thói quen tiêu dùng:
- Năm 2017, tỷ lệ doanh nghiệp có website đạt 43% (89,9% giới thiệu doanh nghiệp; 85,9% quảng bá sản phẩm; 38% cho phép đặt hàng; 3,5% tích hợp thanh toán trực tuyến).
- Tỷ lệ doanh nghiệp có ứng dụng bán hàng trên thiết bị di động duy trì ở mức 15% trong các năm 2016–2017; trong khi đó, 72% lượt truy cập và 53% giao dịch thương mại điện tử diễn ra qua điện thoại thông minh (báo cáo Appota nửa đầu 2018).
- 55 triệu người sử dụng mạng xã hội năm 2018; Facebook đạt 58 triệu người dùng (đứng thứ 7 thế giới). 32% doanh nghiệp kinh doanh qua mạng xã hội (2017). Tỷ lệ cửa hàng sử dụng Facebook bán hàng là 87% (97% đánh giá hiệu quả cao); Zalo đạt 55,1% về hiệu quả marketing.
- Vị thế các sàn thương mại điện tử nội địa và quốc tế quý 4/2018: Shopee dẫn đầu với hơn 41 triệu lượt truy cập/tháng, Tiki đạt gần 36 triệu lượt/tháng, theo sau là Lazada, Thế giới di động và Sendo.
- Giao dịch thương mại điện tử B2B: Email vẫn là công cụ chủ đạo trong đặt hàng và tiếp nhận đơn hàng.
| Kênh công cụ trực tuyến |
Nhận đơn hàng năm 2016 |
Nhận đơn hàng năm 2017 |
Đặt hàng năm 2016 |
Đặt hàng năm 2017 |
| Email |
85% |
79% |
84% |
79% |
| Website doanh nghiệp |
45% |
39% |
46% |
41% |
| Sàn thương mại điện tử |
36% |
32% |
32% |
29% |
- Tình hình thương mại điện tử xuyên biên giới: Quy mô doanh thu năm 2018 đạt khoảng 28 triệu USD (chiếm chưa đến 1% tổng doanh thu thương mại điện tử toàn ngành). Trên sàn Amazon có hơn 300 tài khoản doanh nghiệp Việt Nam; trên Alibaba có hơn 500.000 thành viên doanh nghiệp Việt Nam và hơn 1.000 doanh nghiệp là thành viên Gold Supplier (phí duy trì từ 30 đến 135 triệu đồng/năm). Đối với B2C xuyên biên giới, 80% đơn hàng có giá trị dưới 30 USD.
- Kết quả khảo sát thực nghiệm của tác giả (192 phản hồi hợp lệ):
- Nhóm tuổi 18–34 chiếm 91,7% (176 người).
- 72,2% đã từng dùng hàng ngoại, nhưng có đến 52,8% chưa từng mua hàng nước ngoài qua Internet. Lý do chưa mua: thanh toán phức tạp (31,7%), không tin tưởng chất lượng (23,8%), thủ tục đặt hàng rắc rối (22,2%), chưa thử (15,9%), không có nhu cầu (15,9%).
- Các mặt hàng thường mua online từ nước ngoài: Thiết bị điện tử (39,1%), thiết bị gia dụng (34,8%), dụng cụ thể thao và du lịch (21,1%), thời trang, mỹ phẩm, sách báo. 88,4% giao dịch thực hiện trên điện thoại thông minh.
- Kênh mua hàng nước ngoài: Mua qua cá nhân bán hàng xách tay online chiếm 60,4%; qua sàn thương mại điện tử xuyên biên giới chiếm 26,4%; qua tổ chức nhập khẩu trong nước bán online chiếm 24,5%; qua website công ty nước ngoài chiếm 22,6%.
- Hoạt động xúc tiến từ phía Nhà nước:
- Hạ tầng viễn thông: Kết nối 5 tuyến cáp quang biển (SMW3, AAG, APG, IA, AAE-1); phủ sóng 4G với hơn 150.000 trạm phát sóng; tốc độ di động đạt 20 Mbps (xếp thứ 62 thế giới), băng rộng cố định đạt 24,46 Mbps (xếp thứ 59 thế giới).
- Khung pháp lý: Ban hành Nghị định 52/2013/NĐ-CP, áp dụng Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật An ninh mạng, Luật An toàn thông tin.
- Cải cách hành chính: Cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, triển khai hải quan điện tử, cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) điện tử, cấp phép nhập khẩu tự động.
- Chính sách và kế hoạch: Ban hành Chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2014–2020, Quyết định số 1563/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2016–2020 (đặt mục tiêu B2B chiếm 30% kim ngạch xuất nhập khẩu vào năm 2020), Chỉ thị 16/CT-TTg năm 2017, xây dựng Đề án quản lý hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan.
- Hợp tác quốc tế: Ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, tham gia các FTA ASEAN+, CPTPP, đề xuất "Khung thuận lợi hóa thương mại điện tử xuyên biên giới" tại Hội nghị APEC 2017 Đà Nẵng, triển khai Hiệp định ASEAN về Thương mại điện tử 2018, hợp tác giữa Bộ Công Thương và Amazon Global Selling, Biên bản ghi nhớ Việt Nam - Áo (2015), vận hành cổng thông tin xuất khẩu vietnamexport.com.
- Hoạt động của doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Khảo sát năm 2016 của Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin cho thấy 32% doanh nghiệp xuất nhập khẩu thiết lập quan hệ đối tác qua kênh trực tuyến (49% lập website riêng, 54% dùng tên miền quốc tế, 63% website có hỗ trợ ngôn ngữ nước ngoài, 11% tham gia sàn giao dịch quốc tế).
Chương 3: Giải pháp xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam
Trên cơ sở mục tiêu đưa giao dịch thương mại điện tử B2B chiếm 30% kim ngạch xuất nhập khẩu vào năm 2020, tác giả đề xuất 9 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật Internet và nâng cao khả năng bảo mật, an toàn thông tin.
- Hoàn thiện môi trường pháp lý cho thương mại điện tử, trọng tâm là sửa đổi quy định cho phép chấp nhận dữ liệu điện tử trong thanh toán quốc tế thay cho chứng từ giấy bắt buộc.
- Tiếp tục cải cách thủ tục hải quan, mở rộng Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và tối ưu hóa quy trình kiểm tra chuyên ngành (KTCN).
- Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống thanh toán điện tử quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro và đơn giản hóa thủ tục thanh toán.
- Phát triển hệ thống logistics chuyên biệt đáp ứng yêu cầu vận chuyển, kho bãi và giao nhận của thương mại điện tử xuyên biên giới.
- Đào tạo, phát triển đội ngũ nhân lực có kiến thức chuyên sâu về thương mại quốc tế và kỹ năng vận hành thương mại điện tử.
- Thúc đẩy doanh nghiệp xuất nhập khẩu đầu tư chuyển đổi số toàn diện các khâu kinh doanh, tối ưu hóa giao diện website và kênh bán hàng trực tuyến.
- Cải biến sản phẩm về quy cách, bao bì, tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với thị hiếu của thị trường nước ngoài.
- Khuyến khích mô hình xuất khẩu B2C và xây dựng các sàn giao dịch thương mại điện tử B2C xuyên biên giới mang thương hiệu Việt Nam, phân định rõ vai trò điều phối của Chính phủ và các bộ, ban ngành liên quan.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và công bố các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Phản ánh đúng thực trạng quy mô thương mại điện tử xuyên biên giới Việt Nam năm 2018 còn nhỏ bé (khoảng 28 triệu USD, dưới 1% tổng doanh thu toàn ngành), bất chấp đà tăng trưởng nhanh của thương mại điện tử nội địa B2C (đạt 8 tỷ USD).
- Nhận diện các điểm nghẽn chính cản trở thương mại điện tử xuyên biên giới thông qua số liệu điều tra thực tế: Rào cản thanh toán quốc tế phức tạp (31,7%), người tiêu dùng chưa tin tưởng chất lượng (23,8%), phương thức mua hàng xách tay vẫn chiếm ưu thế áp đảo (60,4%) so với sàn thương mại điện tử xuyên biên giới (26,4%).
- Ghi nhận sự chuyển dịch kênh giao tiếp trong khối doanh nghiệp xuất nhập khẩu với 32% đơn vị khai thác kênh trực tuyến, hơn 500.000 tài khoản trên sàn Alibaba và hơn 300 tài khoản trên Amazon.
Về mặt đóng góp khoa học và ứng dụng:
- Đóng góp vào khoảng trống nghiên cứu về hoạt động xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam – lĩnh vực tại thời điểm năm 2019 chưa có nhiều công trình nghiên cứu hệ thống.
- Làm rõ nội dung xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới dưới góc độ quản lý nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và các tổ chức trung gian cung cấp nền tảng sàn giao dịch.
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với định hướng phát triển xuất nhập khẩu và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ giai đoạn 2016–2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Quy mô mẫu khảo sát sơ cấp còn hạn chế với 192 phản hồi hợp lệ, cơ cấu mẫu tập trung chủ yếu vào độ tuổi thanh niên từ 18 đến 34 tuổi (chiếm 91,7%), chưa bao quát đầy đủ các nhóm đối tượng tiêu dùng khác trong xã hội.
- Nghiên cứu tập trung thu thập dữ liệu sơ cấp từ phía người tiêu dùng cá nhân (chiều nhập khẩu B2C), chưa thực hiện khảo sát định lượng trực tiếp trên mẫu doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đánh giá sâu hơn về chi phí vận hành và rào cản kỹ thuật ở chiều xuất khẩu B2B.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi và quy mô điều tra thực nghiệm trên đối tượng doanh nghiệp xuất nhập khẩu thuộc các ngành hàng chủ lực của Việt Nam (dệt may, da giày, nông sản, thủ công mỹ nghệ).
- Đánh giá tác động thực tế của các cam kết thương mại điện tử trong hiệp định CPTPP và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu trực tuyến của Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Thương mại điện tử, Kinh tế đối ngoại và Quản trị chuỗi cung ứng khi tìm hiểu về mô hình vận hành thương mại điện tử quốc tế.
- Các nhà nghiên cứu cần hệ thống hóa các chỉ số thương mại điện tử Việt Nam trong giai đoạn chuyển tiếp 2015–2019.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô vừa và nhỏ (SMEs) tham khảo kinh nghiệm triển khai gian hàng trên các sàn giao dịch quốc tế (Amazon, Alibaba) và nắm bắt các chương trình hỗ trợ, cơ chế một cửa, thủ tục hải quan điện tử từ Bộ Công Thương.
Các nội dung đáng tham khảo nhất trong công trình:
- Bảng so sánh đặc trưng giữa thương mại điện tử và thương mại truyền thống (Chương 1).
- Báo cáo phân tích dữ liệu khảo sát thực nghiệm 192 người tiêu dùng về hành vi mua sắm hàng nước ngoài qua kênh trực tuyến (Chương 2).
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các chương trình hợp tác quốc tế về thương mại điện tử xuyên biên giới (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
Doanh thu thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam năm 2018 đạt mức bao nhiêu và chiếm tỷ trọng như thế nào?
Theo số liệu trong khóa luận, doanh thu thương mại điện tử xuyên biên giới của Việt Nam năm 2018 đạt khoảng 28 triệu USD, chiếm tỷ trọng chưa đến 1% tổng doanh thu toàn ngành thương mại điện tử.
Nguyên nhân chính khiến người tiêu dùng trong nước ngần ngại mua hàng hóa từ nước ngoài qua Internet theo kết quả khảo sát của tác giả là gì?
Trong số 52,8% người tiêu dùng chưa từng mua hàng ngoại trực tuyến, các nguyên nhân chính được ghi nhận gồm: phương thức thanh toán phức tạp (31,7%), thiếu tin tưởng vào chất lượng sản phẩm (23,8%), quy trình đặt hàng rắc rối (22,2%), chưa từng thử nghiệm (15,9%) và chưa có nhu cầu (15,9%).
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam tham gia bán hàng trên các sàn thương mại điện tử quốc tế như Amazon và Alibaba với quy mô ra sao?
Tính đến giai đoạn 2016–2019 ghi nhận trong văn bản, có trên 300 tài khoản doanh nghiệp Việt Nam đăng ký bán lẻ trên Amazon; trong khi đó trên sàn Alibaba có hơn 500.000 thành viên giao dịch là doanh nghiệp Việt Nam, với hơn 1.000 doanh nghiệp trả phí từ 30 đến 135 triệu đồng/năm để duy trì tư cách nhà cung cấp vàng (Gold Supplier).
Quyết định số 1563/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu gì cho thương mại điện tử B2B trong xuất nhập khẩu đến năm 2020?
Quyết định số 1563/QĐ-TTg về Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2016–2020 đặt mục tiêu thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển nhanh, phục vụ thiết thực hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó giao dịch thương mại điện tử B2B phấn đấu chiếm 30% kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước vào năm 2020.
Những vướng mắc pháp lý nào trong quy định thanh toán quốc tế đang cản trở thương mại điện tử xuyên biên giới?
Khóa luận dẫn báo cáo chỉ ra rằng pháp luật hiện hành chưa chấp nhận hình thức thanh toán rút gọn dựa trên luồng dữ liệu điện tử, mà vẫn yêu cầu chứng từ giấy truyền thống không có kết nối dữ liệu trực tiếp trong thanh toán quốc tế, gây xung đột với quy trình tự động hóa của dịch vụ ngân hàng hiện đại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hồng Nhung đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh thực trạng chi tiết về hoạt động xúc tiến thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam giai đoạn 2015–2019. Thông qua việc phân tích dữ liệu ngành kết hợp khảo sát thực nghiệm 192 người tiêu dùng, nghiên cứu đã nhận diện rõ những điểm nghẽn về khung pháp lý chứng từ điện tử, hạ tầng thanh toán quốc tế và hệ thống logistics. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu tận dụng công nghệ số, mở rộng kênh xuất khẩu trực tuyến và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế đối ngoại đến năm 2020.