Chương 1 NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ðỘNG ðẠI LÝ THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT ðIỀU CHỈNH HOẠT ðỘNG ðẠI LÝ THƯƠNG MẠI 1. Hoạt ñộng ñại lý thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường 1.1 Sự hình thành và phát triển hoạt ñộng ñại lý thương mại Ngay sau sự phân công lao ñộng lần thứ nhất, trên thế giới hoạt ñộng mua bán hàng hoá ñã xuất hiện và phát triển. Thời kỳ ñầu, hoạt ñộng mua bán hàng hoá chủ yếu ñược diễn ra trực tiếp giữa người sản xuất ra hàng hoá và người tiêu dùng. Sau này, cùng với sự ra ñời của những người lấy việc bán hàng làm nghề nghiệp chính cho mình (thương nhân, thương gia) thì hoạt ñộng mua bán hàng hoá càng phát triển mạnh mẽ và ñược tiến hành dưới nhiều hình thức hết sức ña dạng, phong phú với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau.
Ngày nay, hoạt ñộng trong cơ chế thị trường cùng với sự phát triển ngày càng ñi lên của xã hội, cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt thì vần ñề tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp ngày càng có ý nghĩa quan trọng quyết ñịnh sự thành công của doanh nghiệp. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển như vũ bão của các ngành thương mại ñã thúc ñẩy các doanh nghiệp ñi vào tập trung chuyên môn hóa cao. Các doanh nghiệp sản xuất dồn toàn bộ sức lực cho ra những sản phẩm tốt. Vấn ñề tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cũng là ý nghĩa quyết ñịnh sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp chính vì vậy ñòi hỏi các doanh nghiệp cần tìm cho mình sự trợ giúp của các nhà trung gian chuyên nghiệp.
Vì vậy thương nhân sử dụng nhiều phương thức mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ña dạng, trong ñó, phương thức giao dịch qua những nhà trung gian chuyên nghiệp ñang dần bộc lộ nhiều ưu ñiểm hơn so với phương thức giao dịch trực tiếp 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phương thức giao dịch trực tiếp là phương thức giao dịch, theo ñó người sở hữu hàng hoá và khách hàng tự tìm kiếm cơ hội ñể giao kết và thực hiện Hð. ðây là phương thức giao dịch mang tính truyền thống, xuất hiện ngay từ khi hoạt ñộng mua bán hàng hoá mới ra ñời. Theo phương thức này, thương nhân phải tự tìm kiếm ñối tác, tự thoả thuận các ñiều kiện ñể thiết lập quan hệ Hð. Phương thức giao dịch trực tiếp có nhiều ưu ñiểm như: cả thương nhân và người mua ñều không phải trả chi phí cho người trung gian; do phải trực tiếp tiếp cận thị trường ñể tìm kiếm ñối tác nên thương nhân có ñiều kiện nắm bắt nhu cầu của khách hàng, thị hiếu của thị trường; thương nhân và khách hàng trực tiếp ñàm phán các ñiều khoản của Hð nên tăng sự hiểu biết lẫn nhau và tránh ñược những hiểu nhầm không ñáng có.
Tuy nhiên, phương thức giao dịch trực tiếp cũng có những hạn chế, nhất là khi hoạt ñộng mua bán hàng hoá ñã phát triển ở quy mô lớn: việc thương nhân và khách hàng trực tiếp giao dịch với nhau sẽ làm phát sinh chi phí về thời gian và tiền bạc; khi tiếp cận thị trường mới, thương nhân phải mất thời gian, chi phí ñáng kể cho việc xây dựng ñội ngũ nhân viên, tìm hiểu thị trường, tìm kiếm ñối tác… ðể khắc phục những hạn chế của phương thức giao dịch trực tiếp, phương thức giao dịch qua trung gian ñã ra ñời. Phương thức giao dịch thông qua người trung gian, như các ðLTM, nhà bán buôn, ñại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác thương mại.Trong các dịch vụ trung gian thương mại thì ðLTM là dịch vụ phổ biến, ñược ưa chuộng trên thế giới cũng như ở VN. ðLTM ñã giúp thương nhân ñưa sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng trên một phạm vi rộng lớn, tiết kiệm chi phí giao dịch và ñem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn. Trên thế giới, pháp luật ñiều chỉnh các hoạt ñộng ðLTM ñã xuất hiện từ rất sớm và hiện nay ñã ñạt tới sự hoàn thiện ñáng kể.
Tiêu biểu như BLTM Pháp ñiều chỉnh từ năm 1807 và BLTM ðức từ năm 1897. Pháp luật ñiều 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉnh ðLTM ở nhiều nước nhìn chung ñều tập trung vào một số vấn ñề cơ bản ñể bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Tuy nhiên, quan ñiểm và chính sách ñiều chỉnh hoạt ñộng này ở mỗi nước không giống nhau mà phụ thuộc rất nhiều vào ñiều kiện kinh tế, chính trị xã hội và trình ñộ lập pháp của từng nước. Như vậy, pháp luật về ðLTM trên thế giới là rất ña dạng và phong phú, chúng mang ñậm bản sắc của những thể chế kinh tế khác nhau.
ðể tạo ñiều kiện cho phát triển hơn nữa các hoạt ñộng thương mại qua trung gian bảo vệ và thúc ñẩy lợi ích chung của những nhà trung gian thương mại, từ lâu nhiều nước trên thế giới như những nước Châu Âu và một số nước Áo, Bỉ, ðan Mạch, Phần Lan, Thụy ðiển…ñã thành lập hiệp hội quốc gia của những người ñại lý thương mại ở từng nước. ðặc biệt là sự xuất hiện của “Liên ñoàn các nhà ñại lý và môi giới tàu biển” (Federation of National Associations of Ship Brokers and Agents - FONASBA) trụ sở ở Luân ðôn với các thành viên là hiệp hội của những người ñại lý và môi giới tàu biển ở 49 quốc gia châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Mỹ như Anh, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Nam Phi, Mỹ, Mexico, Trung Quốc, Việt Nam…[60] Như vậy, trên thế giới hoạt ñộng thương mại qua người ñại lý hình thành từ những ñòi hỏi khách quan của hoạt ñộng thương mại. ðó là sự chuyên môn hóa về phân công lao ñộng xã hội, nhu cầu của việc mở rộng sản xuất kinh doanh, do ñòi hỏi cao của tính hiệu quả trong khâu lưu thông hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường hiện ñại, các hoạt ñộng ðLTM ngày càng ñược phát triển ñể ñáp ứng nhu cầu mở rộng việc mua bán, tiêu thụ hàng hóa, cung ứng và sử dụng dịch vụ thương mại.
Ở Việt Nam, hoạt ñộng ðLTM ñã xuất hiện tuy ñã lâu, nhưng mới thực sự bắt ñầu phát triển trong vài năm gần ñây khi nền kinh tế thị trường hình thành. Pháp luật Việt Nam chính thức ghi nhận hoạt ñộng ðLTM trong LTM 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1997 và tiếp tục ñược quy ñịnh trong LTM 2005 trên cơ sở kế thừa, có sửa ñổi, bổ sung. LTM 2005 ñược coi là luật khung quy ñịnh về ðLTM, pháp luật về ðLTM còn ñược ñề cập trong nhiều văn bản luật như Luật kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật hàng hải, Luật du lịch, Luật hải quan, Luật quản lý thuế và các văn bản dưới luật khác. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hoạt ñộng thương mại chủ yếu do các cơ sở thương nghiệp nhà nước ñảm nhận và ñược thực hiện chủ yếu theo phương thức giao dịch trực tiếp, phương thức giao dich qua người ñại lý không ñược chú trọng.
Trong thời kỳ này, các hoạt ñộng ñại lý bắt ñầu ñược áp dụng ñối với các cơ sở kinh tế quốc doanh. Hoạt ñộng ñại lý mua bán hàng hóa, sau giải phóng niềm Nam, chúng ñược áp dụng như một biện pháp cải tạo xã hội chủ nghĩa ñối với thương nghiệp tư nhân ở phía Nam (xem Mục II của bản “Chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa ñối với thương nghiệp tư nhân ở phía Nam”, ban hành kèm theo Quyết ñịnh số 100/CP ngày 12-4-1977 của Hội ñồng chính phủ). Sau ñó ñược sử dụng như một biện pháp ñể quản lí thị trường thực hiện sự phân công và hợp tác giữa các cơ sở kinh tế quốc doanh với nhau hoặc với tổ chức kinh tế tập thể hoặc với một nhà tư sản thương nghiệp. Những cơ sở này làm ñại lý bán lẻ hàng hóa cho thương nghiệp quốc doanh (xem Quyết ñịnh số 312-CP ngày 1-10-1980 của Hội ñồng chính phủ về tăng cường quản lí thị trường và Nghị quyết số 188 – HðBT ngày 23-11-1982 của Hội ñồng Bộ trưởng về tăng cường thương nghiệp xã chủ nghĩa và quản lí thị trường).
Trong các lĩnh vực vận tải tàu biển, bảo hiểm, các doanh nghiệp nhà nước hoạt ñộng ñại lý tàu biển, ñại lý bảo hiểm như: ðại lý tàu biển Việt Nam, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam… 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ sau ðại hội ðảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nền kinh tế ñất nước từng bước chuyển ñổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa. ðây là bước ngoặt lớn tạo ñiều kiện cho hoạt ñộng thương mại của các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế tồn tại và phát triển vì mục tiêu lợi nhuận. Các ñại lý mua bán hàng hóa lúc ñầu xuất hiện ở các thành phố lớn sau ñó mở rộng phạm vi khắp các tỉnh thành trong cả nước. Số lượng ñại lý tăng nhiều không chỉ ở số lượng và chủng loại hàng hóa mà lan sang cả lĩnh vực dịch vụ.
Trước tình hình thực tiễn ấy, LTM 1997 lần ñầu tiên ñã khái quát hóa ðLTM thành những quy ñịnh pháp luật. Sau 7 năm thực hiện LTM 1997 ñã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt ñộng ñại lý thương mại hình thành và phát triển. Bên cạnh ñó, trong quá trình triển khai và thực hiện LTM 1997 ñã không lường trước ñược sự phát triển của nền thương mại nói chung và hoạt ñộng ðLTM nói riêng, một số vấn ñề quy ñịnh về ñại lý thương mại trở nên lạc hậu và bộc lộ nhiều bất cập. Hoạt ñộng ñại lý trong LTM 1997 chỉ bó hẹp trong các hoạt ñộng mua bán hàng hóa thì các hoạt ñộng ñại lý thực tiễn ñã diễn ra ở nhiều ngành dịch vụ như hoạt ñộng ñại lý tàu biển, ñại lý bảo hiểm, ñại lý dịch vụ bưu chính viễn thông… Hơn nữa, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, ñứng trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vô cùng mạnh mẽ, pháp luật VN ñã kịp thời thay ñổi ñể ñáp ứng ñược những nhu cầu của thực tiễn kinh tế xã hội của ñất nước.
LTM 2005 ra ñời tạo cơ sở pháp lý cho ñại lý thương mại ñược “cởi trói” ñể phát triển hơn với những quy ñịnh mang tính mở rộng và khuyến khích phát triển. Quan niệm về hoạt ñộng ñại lý thương mại ðLTM là khái niệm ñược sử dụng phổ biến trong ñời sống hàng ngày, cũng như trong khoa học kinh tế và pháp lý.