Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tài liệu nước ngoài Chan B. và cộng sự (2002) nhận định TMDT mặc dù chỉ chiếm một phần nhỏ trong nền kinh tế của nhiều quốc gia, nhưng nó được nhiều người coi là cơ hội để giảm chi phi và cải thiện năng suất.
Nhiều nền kinh tế đang chuyền mình sang nên kinh tế dựa trên tri thức, nơi thông tin và đôi mới là công cụ cạnh tranh. Nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu của mình tại Singapore - một quốc gia nhỏ với nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế đã nhận ra tầm quan trong của nền kinh tế mới này. Kết quả nghiên cứu xác định chính phủ đóng vai trò tích cực trong việc thiết lập cơ sở hạ tầng TMĐT. và cộng sự (2001) đánh giá TMĐT là một công cụ quan trọng trong việc xử lý các hoạt động kinh doanh nổi lên từ sự hội tụ của một số thông tin công nghệ và thực tiễn kinh doanh.
Mặc dù TMĐT đã được coi là là một cách kinh doanh hiệu quả nhưng việc chấp nhận hình thức kinh doanh này vẫn chưa rộng rãi và còn một số đè dặt giữa người dùng và người không dùng. Nghiên cứu tập trung phân tích dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi về việc áp dụng các ứng dụng TMDT và hạn chế. Kết quả cho thay e-mail là ứng dung TMĐT được sử dụng rộng rãi nhất. Kết quả cũng tiết lộ rằng khoảng 27% số người được hỏi không áp dụng bất kỳ loại ứng dụng TMĐT nào và gần 75% trong số đó có thể được coi là người dùng ít.
Bảo mật được nhiều người chỉ ra là lý do chính hàng đầu đề không áp dụng TMDT. (2007) dé cập đến việc các nền văn hóa có thé ảnh hưởng đến cách những sử dụng internet. Nghiên cứu cho thấy tiềm năng lớn cho TMĐT ở Ai Cập nói riêng va A Rap nói chung. Tuy nhiên, có rat nhiêu thách thức tại noi mọi người quen trả tiền mặt cho những gì họ mua và thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ như một công cụ để mua hàng không được công chúng chấp nhận.
Đây là một nghiên cứu khám phá dựa trên phân tích dữ liệu thứ cấp và quan sát. Kết quả cho thấy TMĐT có một số ưu điểm trong việc nhắm đến khách hàng toàn cầu, nếu nó xem xét sự khác biệt về văn hóa khi áp dụng và áp dụng chiến lược tiếp thị toàn cầu. Mặc dù có rất nhiều sáng kiến của chính phủ dé áp dụng ở tat cả các cấp ở Ai Cập, nhưng thực tế van còn rất xa và vẫn cần phải làm nhiều việc từ cả chính phủ và khu vực tư nhân để đạt được những lợi ích cần thiết. và cộng sự (2010) cho rằng TMĐT có tiềm năng cải thiện hiệu quả và năng suất trong nhiều lĩnh vực và do đó nó nhận được sự quan tâm đáng ké ở nhiều quốc gia.
Tuy nhiên, đã có một số nghi ngờ về mức độ liên quan của TMĐT đối với các quốc gia phát triển. Thiếu cơ sở hạ tầng cơ bản, kinh tế - xã hội và việc thiếu các chiến lược quốc gia về công nghệ thông tin (CNTT) của chính phủ đã tạo ra một rào can đáng ké trong việc chấp nhận và tăng trưởng TMĐT ở các nước đang phat triển. Nghiên cứu cho thay rằng, để hiểu được việc áp dụng và phố biến TMĐT trong các nước đang phát triên, các vân đê văn hóa cân được quan tâm. A và cộng sự (2015) đám giá sự phát triển nhanh chóng của Internet đã làm nay sinh khái niệm và thực tiễn về TMĐT.
TMĐT đã trở thành một hiện tượng phổ biến trên thế giới ngày nay. Cơ cấu kinh tế dựa trên internet và các nhóm thông tin là một thực tế kinh doanh mới, khi các tô chức và cá nhân thích thú với việc dễ dàng mua hàng hóa và dịch vụ từ các bờ biển nước ngoài. Tuy nhiên, hầu hết các nước đang phát triển khó hòa nhập được với thực tế này do nhiều yếu tố đóng vai trò là trở ngại cho TMĐT phát trién. Zeinab Surmanidze (2016) nhận định TMĐT có nhiều lợi thế đối với người mua và người bán.
TMĐT có tiềm năng rat lớn, cũng như sự nguy hiểm có thé xảy ra trong tương lai. TMĐT là rất cần thiết cho tat cả các quốc gia dé dam bảo bảo vệ cơ sở dữ liệu. Một quốc gia muốn có một nền TMĐT phát triển phải có cơ sở lập pháp được điều chỉnh tốt. Một yếu tố quan trọng nữa là chức năng của hệ thống thuế, nếu không có hệ thống thanh toán, thì TMĐT sẽ không thể hoạt động được.
ADB (2018) đánh giá cuộc cách mạng TMĐT ở Châu Á và Thái Bình Dương mang lại tiềm năng kinh tế to lớn. Cụ thể, châu Á đang phát triển nhanh nhất khu vực trong thị trường TMĐT toàn cầu. Cuối năm 2015, quy mô TMĐT so với tông sản phẩm quốc nội là 4,5% ở chau A và Thái Bình Dương. TMĐT đã cải thiện hiệu qua kinh tế và tạo ra nhiều việc làm mới ở các nền kinh tế đang phát triển và các nước phát triển, tạo cơ hội để thu hẹp khoảng cách phát triển và tăng tính bao trùm.
TMDT cũng giúp thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Tuy nhiên, thi trường TMĐT của Châu Á vẫn rất không đồng nhất: mức độ sẵn sàng cho TMĐT đứng thứ năm trên toàn cầu (95,5 điểm) trong khi Afghanistan đứng thứ 132 (17 điểm). Báo cáo cũng giới thiệu một khung phân tích mới để đánh giá mức độ và chất lượng sự phát triển của TMĐT. Kijpokin Kasemsap (2018) cho rằng TMĐT trở thành một trong những cách mua săm được ưa thích khi họ thích trực tuyến vì tính dễ dàng và tiện lợi của nó.
Vì sự tiện lợi của nó, người tiêu dùng có thé tiết kiệm rất nhiều thời gian cũng như tiền bạc bằng cách tìm kiếm sản phẩm của họ một cách dễ dàng và mua hàng trực tuyến. Seema Agarwal (2019) trong nghiên cứu của mình đã trình bày và thảo luận các vấn đề liên quan đến sự phát triển và rào cản trong áp dụng TMĐT ở các nước đang phát triển. Tác giả nhận định internet chưa phải là một nguồn tài nguyên có thể truy cập rộng rãi ở các nước đang phát triển. Hầu hết các quốc gia đang phát triển đều thiếu các chính sách và cơ sở hạ tầng cần thiết cho phép sử dụng Internet rộng rãi.
Ngoài ra còn một loạt các trở ngại như sự không sẵn có, sự không đáng tin cậy của cơ sở hạ tầng và sự thiếu hiểu biết của một phần người dùng về tiềm năng của TMDT. Trình độ học vấn, sự sẵn có của các kỹ năng CNTT, mức độ thâm nhập của máy tính cá nhân và điện thoại trong xã hội cũng cản trở việc áp dụng TMĐT. Bắt chấp những hạn chế trên, TMĐT có thé là một công cụ cực kỳ hữu ích ở các nước đang phát đề hội nhập và phát triển kinh tế. Ghada Taher (2021) cho rằng TMĐT đóng một vai trò thiết yếu trong việc phát triển CNTT cũng như liên lạc.
Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực kinh tế. Trong nghiên cứu của Belwal R. và cộng sự (2021), nhóm tác giả đã xem xét các xu hướng toàn cầu chính liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng trong TMĐT. Nghiên cứu nhằm mục đích hỗ trợ xây dựng khung pháp lý liên quan đến TMĐT và bảo vệ người tiêu dùng ở Vương quốc Hồi giáo Oman và phân tích các quy định hiện hành liên quan đến TMĐT và bảo vệ người tiêu dùng bằng cách tiếp cận nghiên cứu pháp lý chuẩn tắc.
Nghiên cứu phát hiện ra rang các sáng kiến bảo vệ người tiêu dùng ở Oman rất thích hợp cho các giao dịch ngoại tuyến, nhưng tương đối mới và hạn chế đối với TMĐT. Bắt chấp việc ban hành luật bảo vệ người tiêu dùng, luật giao dịch điện tử và luật tội phạm mạng, các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng đối với TMĐT ở Oman không giải quyết được một số lượng lớn các mối quan tâm toàn cầu cần thiết dé xây dựng lòng tin và sự tin cậy của người tiêu dùng trong môi trường trực tuyến. UNCTAD (2021) đã đánh giá tác động của Covid-19 tới các doanh nghiệp (DN) TMĐT ở các nước đang phát triển và các nước kém phát triển để xác định các xu hướng chính và thách thức phải đối mặt các DN TMĐT, cũng như các phản ứng chính sách công và tư dé đối phó với khủng hoảng. Nghiên cứu dựa trên kết quả của cuộc khảo sát điều tra tác động của COVID-19 đối với các DN TMĐT từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 7 năm 2020 tập trung vào 23 quốc gia, chủ yếu ở Châu Phi và Châu Á - Thái Bình Dương.
Kết quả cho thấy các mô hình kinh doanh TMĐT trở nên linh hoạt hơn trong bối cảnh hiện tại doanh số bán hàng thông qua các trang web TMDT tăng, thanh toán điện tử đã có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, mặc dù đại dịch là cơ hội cho nhiều mô hình kinh doanh TMĐT nhưng vẫn còn nhiều thách thức, nhiều biện pháp dé giam thiéu anh hưởng của đại dịch lên TMDT đã được thực hiện. Ngoài ra, tac gai còn cho rang, COVID-19 đóng vai trò là động cơ thúc đây sự hợp tác giữa công và tư nhiều hơn, nhưng việc tiếp cận nguồn tài chính cho các DN TMĐT van là một trở ngại và hợp tác quốc tế là điều cần thiết dé thúc day nỗ lực của các quốc gia phat triển TMĐT một cách toàn diện. Tổng quan tài liệu trong nước Tran Thi Cam Hai (2012) nghiên cứu sự phát triển TMĐT tại Da Nẵng. Tác gia phát hiện ra rang, việc áp dụng TMĐT tai Đà Nẵng chịu tác động của nhiều yếu tố, ngoài cường độ cạnh tranh đòi hỏi mỗi DN cần tăng cường phát huy và hoàn thiện hơn nữa cơ cau tô chức, xây dựng định hướng chiến lược phát triển TMĐT rõ ràng, nâng cao sự hiểu biết về TMĐT trong đơn vị.
thì sự hỗ trợ của chính quyền thành phố, các co quan quản lý nhà nước trong việc đảm bảo cơ sở hạ tầng CNTT, cơ chế pháp lý, chính sách khuyến khích là điều cực kỳ quan trong góp phan thúc đây việc ứng dụng và phát triển TMĐT trong các DNNVV trên địa bàn thành phố Đà Nang. Hồ Huy Tựu và cộng sự (2013) xác định các nhân tố tác động đến mức độ ứng dụng TMDT trong các DN tại TP.