phần mở đầu, kết luận, Luận văn đƣợc trình bày trên 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu nghiên cứu. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Hiện trạng khoa học, công nghệ và thu hút nguồn lực cho phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Hà Giang.
Kết luận và Khuyến nghị. 3 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Khoa học và công nghệ và nguồn lực cho phát triển khoa học và công nghệ 1. Khoa học và công nghệ và hoạt động khoa học và công nghệ a, Khoa học và công nghệ - "Khoa học" (science) là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất và đời sống trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của con ngƣời với những đặc điểm riêng về nội dung, về phƣơng thức hoạt động, về quy luật phát triển và chức năng xã hội. Theo Khoản 1 điều 2 Luật khoa học và công nghệ năm 2000 “khoa học” đƣợc định nghĩa“là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy”[13]. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết”. Theo truyền thống, hệ khoa học thƣờng đƣợc chia thành ba nhánh là khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật.
Ở Việt Nam, hệ khoa học chia thành: Khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Mỗi khoa học đều có phần cơ bản và ứng dụng. Khoa học cơ bản là hệ thống tri thức lý thuyết phản ánh các thuộc tính, quan hệ, quy luật khách quan của lĩnh vực, hiện tƣợng đƣợc nghiên cứu. Khoa học ứng dụng là hệ thống tri thức đƣa ra những con đƣờng, những biện pháp, hình thức ứng dụng tri thức khách quan vào thực tiễn phục vụ cho lợi ích con ngƣời.
4 z - Cách đây từ vài chục năm, Anh, Mỹ, rồi Tây Âu bắt đầu sử dụng thuật ngữ công nghệ để chỉ các kỹ thuật cụ thể bắt nguồn từ các thành tựu khoa học, coi các kỹ thuật đó nhƣ một sự phát triển của khoa học ứng dụng trong thực tiễn. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Công nghệ còn đƣợc hiểu là các phƣơng tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hóa các tri thức ứng dụng khoa học và công nghệ, là một tập hợp các cách thức, các phƣơng pháp dựa trên cơ sở khoa học và đƣợc sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra sản phẩm vất chất và dịch vụ. Khi nghiên cứu công nghệ một số nhà nghiên cứu coi công nghệ bao gồm hai yếu tố: Phần cứng bao gồm máy móc, trang thiết bị.
Trong nột số trƣờng hợp gọi đó là trang thiết bị kỹ thuật. Phần cứng này đƣợc mua bán, trao đổi trên thị trƣờng nhƣ những loại hàng hóa bình thƣờng khác. Phần mềm bao gồm những tri thức, kỹ năng, bí quyết cũng nhƣ các công thức hƣớng dẫn sử dụng, phối kết hợp các thiết bị với nhau. Phần mềm cũng là yếu tố đƣợc mua bán, trao đổi trên thị trƣờng.
Các thành phần cấu thành công nghệ : + Nhóm các yếu tố về kỹ thuật (Technoware) : bao gồm các trang thiết bị cầm tay hoặc cơ giới hóa; trang thiết bị tự động, trang thiết bị đƣợc máy tính hóa và trang thiết bị liên kết. + Nhóm các yếu tố thuộc về con ngƣời (Humanware): bao gồm những năng lực vận hành và khởi động, năng lực và tái sản xuất, năng lực thích nghi và hoàn thiện và năng lực phát minh sáng tạo. + Nhóm các yếu tố về thông tin (Infoware): bao gồm các thông tin dữ liệu và bí quyết liên quan đến việc sử dụng thành thạo và khai thác trang thiết bị. 5 z + Nhóm các yếu tố thuộc về tổ chức (Orgaware): bao gồm những cách thức tổ chức nhằm vận hành liên kết các yếu tố khác của công nghệ.
Nhƣ vậy, “công nghệ” là sự thể hiện các tri thức của con ngƣời trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội. Công nghệ không chỉ tồn tại dƣới dạng vật chất mà là tổng thể các yếu tố con ngƣời có thể biết đƣợc, đạt đƣợc, nắm bắt đƣợc dƣới dạng tri thức. * Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ Từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay: Khoa học có bƣớc nhảy vọt về chất, có vị trí dẫn đƣờng và trở thành động lực quan trọng, trực tiếp nhất của sự phát triển công nghệ. Công nghệ đã đóng góp cho sự phát triển của khoa học, cung cấp các phƣơng tiện và công cụ tốt hơn cho nghiên cứu khoa học và có thể ảnh hƣởng đáng kể đến sự hình thành của các lý thuyết khoa học mới và bản thân việc sáng tạo ra các phƣơng pháp mới cũng có thể tạo ra những thách thức mới cho các nhà khoa học đi tìm ra các lý thuyết khoa học mới.
Song, kiến thức mới trong khoa học lại đƣợc ứng dụng để lý giải, cải tiến các loại công nghệ sẵn có và giúp tạo ra các ý tƣởng công nghệ mới, thậm chí giúp dự đoán sự xuất hiện của các công nghệ tƣơng lai. Nhƣ vậy khoa học và công nghệ là mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại lẫn nhau. b, Hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động chuyên biệt nhằm tìm kiếm, phát hiện, lý giải về các hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy cũng nhƣ các hoạt động ứng dụng tri thức vào phục vụ sản xuất và đời sống của con ngƣời. Luật khoa học và công nghệ đƣa ra khái niệm: “Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, 6 z hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ”[13].
- Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Trong đó, hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là những hoạt động quan trọng nhất. - Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tƣợng, sự vật, qui luật tự nhiên, xã hội và tƣ duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học công nghệ thƣờng đƣợc tiến hành dƣới hình thức là đề tài nghiên cứu khoa học với yêu cầu nghiên cứu rõ ràng và mục tiêu xác định, kết quả của hoạt động này là các tri thức khoa học mới đƣợc tìm ra, đƣợc khẳng định, đƣợc chứng minh.
- Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm: triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới và sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả của triển khai thực nghiệm để sản xuất thứ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trƣớc khi đƣa vào sản xuất đời sống. Phát triển công nghệ là hoạt động có nghĩa thực tiễn bởi vì nó chính là cách thức để con ngƣời ứng dụng các tri thức khoa học vào phục vụ nhu cầu của mình. Nghiên cứu và phát triển công nghệ thƣờng đƣợc tổ chức thực hiện dƣới hình thức là đề tài nghiên cứu và phát triển công nghệ hoặc dự án sản xuất thực nghiệm.
- Dịch vụ khoa học và công nghệ là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tƣ vấn, đào tạo, bồi 7 z dƣỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn. Khoa học và công nghệ là nền tảng phát triển kinh tế Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nƣớc và đời sống xã hội không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học và công nghệ hiện đại. Khi chúng ta nói đến vai trò nền tảng và động lực của khoa học và công nghệ trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá cũng là nói đến công nghiệp hoá – hiện đại hoá dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ. Quan điểm này hơn một trăm năm trƣớc Các-Mác đã từng dự báo: “ Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lƣợng lao động đã chi phí hơn là vào sức mạnh của những tác nhân đƣợc khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến lƣợt chúng (hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tƣơng ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra, chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào sự ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất”.
Trong thế kỷ XX, những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia, và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài ngƣời. Bƣớc vào thế kỷ XXI, cả thế giới đang cuốn theo xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức. Các nƣớc phát triển đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức với đặc điểm là nền kinh tế biết khai thác, biết phát huy triệt để tiềm năng của chất xám, của những ý tƣởng sáng tạo và đặc biệt là tri thức về khoa học và công nghệ phục vụ cho các mục tiêu chiến lƣợc của xã hội.