Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2: Thực trạng chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO. ĐÔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để xác định quy mô doanh nghiệp, nhìn chung các quốc gia căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau như số lao động, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay SMEs (Small and Medium Enterprises) là những doanh nghiệp có số lao động hay doanh số ở dưới một mức giới hạn nào đó. Tại Liên minh Châu Âu, khái niệm về SMEs đã được chuẩn hóa, cụ thể những doanh nghiệp có dưới 50 lao động, tông doanh thu từ 2 triệu euro đến 10 triệu euro được gọi là doanh nghiệp nhỏ còn những doanh nghiệp có từ 50 đến 250.
lao động, tổng doanh thu từ 10 triệu euro đến 50 triệu curo được gọi là những doanh nghiệp vừa. Ngược lại, ở Mỹ những doanh nghiệp có số lao động dưới 100 người được gọi là doanh nghiệp nhỏ, dưới 500 người là doanh nghiệp vừa Theo cach thức phân loại như trên, trong hầu hết các nền kinh tế, DNNVV đều chiếm đa số. Tại Liên minh Châu Âu, theo thống kê, tính đến năm 2012 DNNVV có số lượng lên tới khoảng 21 triệu doanh nghiệp với số lao động lên đến hơn 88 triệu người đóng góp 3,39 nghìn tỷ euro vào GDP của Liên minh Châu Âu (trong khi đó chỉ có khoảng 42 nghìn doanh nghiệp lớn). Tại Việt Nam, căn cứ theo Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, khái niệm DNNVV được trình bày như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đãđăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cắp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguôn vốn (tổng nguôn vốn tương đương tông tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguôn vốn là tiêu chí tru tiên).
Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh Quy mô nghiệp siêu | Doanh nghiệp nhỏ. Doanh nghiệp vừa nhỏ l Tong nguồn | _, Tong ngudn | _. Khu vue Số lao động. Số lao động.
Số lao động. vốn vốn T Nong, lâm nghiệp | TO người trở | 20 ty đồng | từ 10~200 | từ20- 100 | từ200~ và thủy sản xuống trở xuống. người tydéng | 300 người II Công nghiệp và | I0 người trở | 20tÿ đồng | từ 10=200 | từ20-= 100 | từ200= xây dựng. xuống trở xuống.
người tỷ đồng, 300 người TIL Thương mại và | 10 người trở [ 20 tỷ đồng | từ10-50 | từ 20-50 | từ 50~ 100 dịch vụ xuống trở xuống. người tỷ đồng, người (Nguôn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) Như vậy, các khái niệm về DNNVV thống nhất với nhau về các tiêu chí xác định DNNVV, phù hợp điều kiện thực tiễn của Việt Nam (là một nước có trình độ phát triển kinh tế còn thấp, năng lực quản lý còn hạn chế, thị trường chưa thực sự phát triển, chưa có chuẩn mực đo quy mô doanh nghiệp một cách chính thức) và khung khổ pháp luật hiện hành nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp này phát triển phù hợp với chiên lược phát triên kinh tê - xã hội nước ta. Hai tiêu chí lao động bình quân và vốn đăng ký được lựa chọn do các lý do: (i) Tat cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều có số liệu về hai tiêu chí này; (ii) Có thể xác định tiêu chí này ở mọi cấp độ: toàn bộ nền kinh tế, ngành, doanh nghiệp; (ii) Trong điều kiện thực trạng thống kê về các doanh nghiệp còn chưa đầy đủ của Việt Nam thì tối thiểu với hai tiêu chí này chúng ta có thê xác định tương đối chính xác số lượng của DNNVV (Nguyễn Công Liêm, Nguyễn Thanh Tuấn, 2007, trl). Vai trò doanh nghiệp nhỏ và vừa Các tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay trên thế giới đều khởi đầu từ những xí nghiệp, những công trường thủ công sản xuất nhỏ.
Những tập đoàn kinh doanh lúc. ban đầu cũng chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia nhưng trong quá trình cạnh tranh 10 gay gắt mà các công ty xuyên quốc gia đã ra đời. Tuy vậy, đối với những nước tư bản phát triển, các DNNVV vẫn giữ một vị trí quan trọng và ngày càng được khẳng định (Nguyễn Công Liêm, Nguyễn Thanh Tuần, 2007, tr. Ở mỗi nền kinh các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung có.
một số vai trò tương đồng như sau: — Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: Các DNNVV thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chi áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (thường cl ty trong khoảng từ 95%-97% số lượng doanh nghiệp trong nên kinh tế). Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể — Giữ vai trò ôn định nền kinh tế: Ở phần lớn các nền kinh , các DNNVV là những nhà u phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điêt cho phép nền kinh tế có được sự ồn định. Vì thế, DNNVV được ví là thanh giảm sốc cho nên kinh tế.
— Làm cho nền kinh tế năng động: DNNVV có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh hoạt động. Các công ty lớn và các tập đoàn không có tính năng động cao như. các DNNVV vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của chúng quá lớn. Thông thường các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ÿ càng lớn.
Một nền kinh tế đặt một tỷ lệ quá lớn đội ngũ lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ trở lên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp với những thay đổi của thị trường. Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các DNNVV sẽ trở lên nhanh nhẹn hơn và phản ứng một cách kịp thời hơn. Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao. — Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ quan trọng: DNNVV thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chỉ tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phâm hoàn chinh.
— Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ. sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, tăng sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương. Thể hiện: 1I + Một là, tạo ra nhiều việc làm với chỉ phí thấp: Do đặc tính phân bố rải rác, các doanh nghiệp này thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng, địa phương và đối tượng lao động, đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa, vùng chưa có điều kiện phát triển kinh tế, với các đối tượng lao động có trình độ tay nghề thấp. Nhờ vậy, chúng vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần giảm dòng người chuyền về thành phố tìm việc làm.
Do tinh lĩnh hoạt, uyén chuyển dễ thích ứng với các thay đổi của thị trường tại các DNNVV. Đối với các doanh nghiệp lớn, trong trường hợp có biến động xảy ra sẽ đối phó khá chậm chạp, không phải do năng lực quản lý mà do các doanh nghiệp. lớn khó xoay trở nhanh. Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽ phải sa thai bớt lao động để cắt giảm chỉ phí đến mức có thể tồn tại và phát triển được trong điều kiện cung lớn hơn cầu.
Trong khi đó khả năng linh hoạt, có thẻ thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các DNNVV vẫn có thể tồn tại được. mà không phải sử dụng đến các biện pháp cắt giảm lao động + Hai là, tăng cường tiết kiệm và đầu tư cho nhân dân địa phương.Nhìn chhung các DNNVV được mở ra ở địa phương nào đều có công nhân và chủ doanh nghiệp là người ở địa phương đó. Khi các doanh nghiệp này mở ra thì người dân ở địa phương đó có công ăn việc làm và có nguồn thu nhập. Do đó quỹ tiết kiệm và đầu tư ở địa phương đó được bồ sung.
+ Ba là, phát huy các nguồn lực ở địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế.Một nền kinh tế bao giờ cũng có vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa. Đó là các vùng thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển, thiếu tài nguyên. các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực đó vì cho rằng nguồn lợi thu được ở những nơi đó không bằng nguồn lợi thu được ở những nơi khác với cùng một chỉ phí bỏ ra. Nếu một nền kinh tế chỉ có các doanh nghiệp lớn sẽ dẫn đến một sự phát triển không.
đồng đều giữa các vùng, không tận dụng hết các tài nguyên và giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, cũng như gây ra các thiệt hại tiềm tàng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, đối với các DNNVV thì chỉ phí cơ hội ở các vùng này là chấp nhận được, xứng đáng với nguồn lợi thu lại. Vì vậy, họ sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương. 12 + Bốn là, cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hóa đáng kẻ về cả số lượng, chất lượng và chủng loại.Các DNNVV thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hóa.
Để có thêm sức cạnh tranh với các tổng công ty, tập đoàn lớn, hàng hóa của các doanh nghiệp này nói chung thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn. Bên cạnh đó họ cũng tiến vào nhiều thị trường nhỏ mà các tông công ty, tập đoàn lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ. — Gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh Một số những người có tài trong quản trị kinh doanh không muốn làm việc trong các công ty lớn mà muốn mở công ty riêng cho mình. Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa rất thích hợp cho họ trong việc thử sức của mình.
các công ty tư nhân lớn đi lên từ các công ty nhỏ.