Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2010 - 2015 ghi nhận sự bùng nổ về quy mô của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam khi số lượng tăng mạnh từ 125.886 doanh nghiệp lên 351.945 doanh nghiệp, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 22,91%/năm và chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế. Dẫu vậy, năng lực cạnh tranh và chất lượng kỹ thuật của cộng đồng doanh nghiệp này vẫn ở mức báo động khi có tới 76% máy móc, dây chuyền thuộc thế hệ những năm 1960 - 1970 và 75% trang thiết bị đã hết khấu hao. Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới chỉ rõ chỉ số đổi mới và sáng tạo của Việt Nam sụt giảm nghiêm trọng từ vị trí 55/133 năm 2009 xuống hạng 81/144 trong giai đoạn 2012 - 2013, đồng thời mức độ hấp thụ công nghệ xếp ở vị trí 98/133 quốc gia.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là sự thiếu hụt các cơ chế hỗ trợ tài chính hiệu quả, khiến đại đa số doanh nghiệp không đủ tiềm lực tự đổi mới công nghệ nhằm đáp ứng hơn 6.000 bộ Tiêu chuẩn quốc gia được ban hành giai đoạn 2010 - 2020. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng chính sách tài chính hiện hành, nhận diện các điểm nghẽn trong công cụ thuế, tín dụng ngân hàng và ngân sách Nhà nước, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tài chính khả thi đến năm 2020 bám sát mục tiêu của Quyết định số 677/QĐ-TTg.

Phạm vi không gian của đề tài bao phủ toàn bộ nền kinh tế Việt Nam với trọng tâm phân tích tại các địa bàn kinh tế trọng điểm như Hà Nội và 30 tỉnh phía Bắc trong giai đoạn 2010 - 2015. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phân bổ vốn công, thúc đẩy năng suất lao động xã hội và kéo giảm tỷ lệ hao phí nguyên vật liệu đang cao hơn 1,5 lần so với mức chuẩn của thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai nền tảng lý thuyết kinh tế học trụ cột. Thứ nhất là Lý thuyết thất bại thị trường, giải thích rằng hoạt động đổi mới công nghệ luôn đi kèm rủi ro cao và tính bất đối xứng thông tin nghiêm trọng, khiến thị trường tự do không thể cung ứng đủ vốn tài trợ cho các dự án nghiên cứu và triển khai của khu vực doanh nghiệp nhỏ. Sự can thiệp và hỗ trợ tài chính từ Nhà nước thông qua các ưu đãi tài khóa và quỹ hỗ trợ công lập là điều kiện tiên quyết để bù đắp các khiếm khuyết thị trường. Thứ hai là Lý thuyết hiệu ứng lan tỏa công nghệ, phân tích cơ chế lan tỏa tri thức theo chiều dọc (liên kết cung ứng xuôi và ngược với các doanh nghiệp FDI) và theo chiều ngang (áp lực cạnh tranh cùng ngành và dịch chuyển nhân sự kỹ thuật), trong đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa với điểm xuất phát công nghệ thấp sẽ thu được giá trị gia tăng và lợi ích biên vượt trội khi tham gia vào quá trình tiếp nhận chuyển giao.

Khung lý thuyết vận dụng ba khái niệm nền tảng: Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo phân loại tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP (dựa trên tiêu chí tổng nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng hoặc số lao động dưới 300 người); Đổi mới công nghệ theo chuẩn của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương bao gồm việc cải tiến hoặc thay thế bốn thành phần cốt lõi là kỹ thuật, con người, thông tin và tổ chức; cùng hệ thống Chính sách hỗ trợ tài chính gồm công cụ thuế thu nhập doanh nghiệp, tín dụng ưu đãi và chi đầu tư ngân sách Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp để bảo đảm tính khách quan và chiều sâu thực nghiệm. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2010 - 2015, báo cáo thường niên của Bộ Khoa học và Công nghệ, dữ liệu điều tra 10.994 doanh nghiệp của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản năm 2012 và khảo sát 1.200 doanh nghiệp của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức năm 2009.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu khảo sát ngẫu nhiên phân tầng đối với 100 doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội, kết hợp phỏng vấn sâu các chuyên gia và cán bộ quản lý tại các cơ quan chuyên trách phát triển doanh nghiệp. Cỡ mẫu 100 doanh nghiệp được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện theo cơ cấu ngành nghề (công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ kỹ thuật) và khả năng tiếp cận thực tế. Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu và phân tích định tính khung chính sách. Lý do lựa chọn phương pháp này là vì cơ sở dữ liệu về tài chính công nghệ tại Việt Nam còn phân tán, việc kết hợp số liệu vĩ mô nhiều năm với khảo sát vi mô giúp kiểm chứng chính xác khoảng cách giữa văn bản quy phạm và thực tiễn thi hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, rào cản tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng là điểm nghẽn nghiêm trọng nhất đối với hoạt động đổi mới công nghệ. Kết quả khảo sát 100 doanh nghiệp tại Hà Nội chỉ ra rằng có tới 94% doanh nghiệp không thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng, trong khi chỉ có 6% doanh nghiệp vay vốn thành công. Trên phạm vi cả nước, khoảng 70% doanh nghiệp nhỏ và vừa phải sử dụng vốn tự có tích lũy hoặc tìm đến các kênh vay phi chính thức với mức lãi suất rất cao từ 15% đến 18%/năm, làm suy giảm nghiêm trọng biên lợi nhuận của các dự án đổi mới.

Thứ hai, trình độ công nghệ của doanh nghiệp đang ở mức rất thấp, đi kèm tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển cực kỳ khiêm tốn. Khảo sát của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản trên 10.994 doanh nghiệp sản xuất phía Bắc ghi nhận chỉ có 8% (tương đương 879 doanh nghiệp) sở hữu công nghệ tiên tiến, 50% ở mức trung bình và 42% (4.614 doanh nghiệp) vẫn đang vận hành các dây chuyền lạc hậu. Theo số liệu khảo sát 1.200 doanh nghiệp của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức, mức chi tiêu cho đổi mới công nghệ chỉ chiếm khoảng 0,1% doanh thu hàng năm, thấp hơn rất nhiều so với mức trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế mà pháp luật cho phép.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị trong khối doanh nghiệp này còn quá mỏng. Lao động phổ thông chiếm tới 85,19% tổng số nhân lực khu vực ngoài nhà nước, trong khi lao động có trình độ đại học và cao đẳng chỉ đạt 3,83%, trên đại học chiếm tỷ lệ khiêm tốn 0,07%, và đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia chỉ chiếm 0,025% lực lượng lao động.

Thứ tư, hiệu lực thực thi của các công cụ chính sách hỗ trợ công lập còn rất hạn chế. Tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận các chương trình ưu đãi quốc gia như Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia chỉ đạt dưới 10%. Mạng lưới Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg mới thành lập được tại 12 tỉnh, thành phố và hoạt động kém hiệu quả do phạm vi bảo lãnh đơn điệu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ việc các quy định pháp lý đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài sản bảo đảm và lịch sử báo cáo tài chính kiểm toán hoàn chỉnh, trong khi có tới 86% doanh nghiệp trong khảo sát đánh giá các quy trình, thủ tục vay vốn ở mức độ phiền hà đến rất phiền hà (32% đánh giá rất phiền hà và 54% đánh giá phiền hà). Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, Nhật Bản đã áp dụng chính sách ưu đãi thuế tương đương 20% chi phí nghiên cứu gia tăng và cho phép trích 6% thu nhập tính thuế cho nghiên cứu và phát triển, còn Hàn Quốc cung cấp các gói vay ưu đãi từ 70% đến 100% tổng chi phí dự án với thời hạn lên tới 10 năm. Việt Nam hiện nay vẫn chưa có cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính tương xứng cho khối doanh nghiệp nhỏ.

Để trực quan hóa các phát hiện này, dữ liệu thực trạng có thể được thể hiện thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu trình độ công nghệ (với 42% lạc hậu, 50% trung bình và 8% tiên tiến) cùng bảng số liệu so sánh đối chiếu giữa nhu cầu vốn thực tế và tỷ lệ 94% doanh nghiệp bị từ chối vay, qua đó làm nổi bật sự cấp bách cần phải tái cấu trúc toàn diện chính sách tài khóa và tín dụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách thuế nhằm tạo động lực tài khóa trực tiếp cho nghiên cứu và đổi mới. Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế cần thực thi quy chế miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm tiếp theo cho các khoản thu nhập tăng thêm từ dự án ứng dụng công nghệ mới. Đồng thời, nâng cao nhận thức và đơn giản hóa thủ tục quyết toán để khuyến khích 100% doanh nghiệp đủ điều kiện trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ nội bộ với mức tối đa 10% thu nhập tính thuế, hướng đến nâng tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ từ mức 0,1% lên ít nhất 2% doanh thu vào năm 2020.

Thứ hai, cải cách cơ chế tín dụng ưu đãi và mở rộng mạng lưới Quỹ bảo lãnh tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cùng Bộ Tài chính cần chỉ đạo triển khai thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng tại toàn bộ 63 tỉnh, thành phố thay vì chỉ 12 địa phương như trước đây, hoàn thành trước năm 2018. Mở rộng danh mục bảo lãnh sang các nghiệp vụ bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh thanh toán công nghệ, giúp hạ tỷ lệ doanh nghiệp không tiếp cận được vốn ngân hàng từ mức 94% hiện nay xuống dưới 50%.

Thứ ba, đẩy mạnh giải ngân từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Bộ Khoa học và Công nghệ cần duy trì trần mức vốn cho vay tối đa bằng 70% tổng mức đầu tư dự án (không quá 30 tỷ đồng) với thời hạn linh hoạt từ 7 đến 10 năm, áp dụng mức lãi suất không vượt quá 90% lãi suất thương mại bình quân của 5 ngân hàng thương mại nhà nước lớn. Quy trình thẩm định kỹ thuật cần được rút ngắn thời gian xử lý xuống dưới 30 ngày làm việc.

Thứ tư, tăng cường nguồn ngân sách nhà nước cho đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và Bộ Khoa học và Công nghệ cần bố trí ngân sách thường niên tài trợ từ 50% đến 90% chi phí chuyển giao công nghệ và đào tạo tay nghề chuyên sâu cho công nhân kỹ thuật. Mục tiêu là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật từ mức 7,73% lên trên 25% vào năm 2020, tạo nền tảng nhân lực hấp thụ công nghệ tiên tiến.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm giai đoạn 2010 - 2015 và các bài học quốc tế từ Nhật Bản, Hàn Quốc làm căn cứ xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện cơ chế điều hành quỹ tài chính công.

Thứ hai, các chủ doanh nghiệp và ban điều hành doanh nghiệp nhỏ và vừa. Công trình giúp các nhà quản trị nhận diện rõ các quyền lợi ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, chính sách khấu hao nhanh máy móc và điều kiện tiếp cận các gói vay ưu đãi tối đa 30 tỷ đồng từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để xây dựng phương án kinh doanh khả thi.

Thứ ba, các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư mạo hiểm. Luận văn gợi mở các căn cứ thực tiễn để thiết kế sản phẩm tín dụng công nghệ chuyên biệt, hoàn thiện quy trình thẩm định rủi ro phi tài sản thế chấp và mở rộng hoạt động bảo lãnh tín dụng thương mại.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế phát triển, Lịch sử kinh tế và Quản lý kinh tế. Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp kết hợp lý thuyết thất bại thị trường với điều tra mẫu thực địa, cung cấp khung phân tích đa chiều về mối quan hệ giữa chính sách công và hành vi đổi mới công nghệ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam không thể tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng cho đổi mới công nghệ? Theo khảo sát 100 doanh nghiệp tại Hà Nội, có tới 94% doanh nghiệp không vay được vốn do thiếu tài sản bảo đảm và báo cáo tài chính thiếu tính minh bạch. Bên cạnh đó, có 86% doanh nghiệp phản ánh quy trình, thủ tục vay vốn từ các ngân hàng thương mại ở mức độ phiền hà đến rất phiền hà.

  2. Mức đầu tư thực tế cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là bao nhiêu? Theo số liệu khảo sát của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức trên 1.200 doanh nghiệp, mức đầu tư cho đổi mới công nghệ chỉ chiếm khoảng 0,1% tổng doanh thu hàng năm. Đây là con số rất thấp so với hạn mức tối đa 10% lợi nhuận trước thuế mà Nhà nước cho phép trích lập vào Quỹ phát triển khoa học công nghệ.

  3. Điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa nhận được khoản vay ưu đãi từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là gì? Doanh nghiệp phải có dự án khả thi thuộc danh mục ưu tiên, có năng lực pháp luật đầy đủ, đảm bảo vốn chủ sở hữu tham gia tối thiểu 20% tổng mức đầu tư và có phương án trả nợ rõ ràng. Mức vay tối đa đạt 70% tổng mức đầu tư (không quá 30 tỷ đồng) với thời hạn vay từ 7 đến 10 năm.

  4. Chính sách thuế hiện hành đem lại những ưu đãi tài chính nào cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ? Doanh nghiệp thực hiện dự án công nghệ mới được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm cho phần thu nhập tăng thêm và giảm 50% trong 7 năm tiếp theo. Ngoài ra, máy móc và thiết bị chuyên dùng phục vụ nghiên cứu phát triển trong nước chưa sản xuất được sẽ được miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng.

  5. Bài học kinh nghiệm quốc tế nào từ Nhật Bản và Hàn Quốc có giá trị ứng dụng cao nhất cho Việt Nam? Bài học cốt lõi là cơ chế khuyến khích thuế và tài trợ vốn mạo hiểm. Nhật Bản cho phép ưu đãi thuế 20% trên phần chi phí nghiên cứu tăng thêm, trong khi Hàn Quốc tài trợ từ 50% đến 90% chi phí thương mại hóa công nghệ và cung cấp các khoản vay bao phủ tới 100% tổng mức đầu tư dự án công nghệ cao.

Kết luận

  • Trình độ công nghệ của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn rất lạc hậu với hơn 75% thiết bị hết khấu hao và 42% doanh nghiệp sản xuất sử dụng công nghệ cũ, đòi hỏi đòn bẩy tài chính công mạnh mẽ.
  • Điểm nghẽn tiếp cận vốn khi 94% doanh nghiệp khảo sát không vay được vốn ngân hàng cần được tháo gỡ bằng việc chuẩn hóa quy trình và mở rộng hệ thống 12 quỹ bảo lãnh tín dụng ra toàn quốc.
  • Đổi mới công cụ thuế thông qua cơ chế khấu trừ chi phí nghiên cứu và phát triển theo mô hình Nhật Bản và Hàn Quốc, thúc đẩy tỷ lệ đầu tư công nghệ vượt qua ngưỡng 0,1% doanh thu hiện tại.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để khắc phục điểm yếu 85,19% lao động phổ thông, bảo đảm năng lực làm chủ các dây chuyền kỹ thuật mới chuyển giao.
  • Đồng bộ hóa khung thể chế tài chính nhằm hiện thực hóa mục tiêu gia tăng số lượng doanh nghiệp đổi mới công nghệ bình quân 15%/năm theo Quyết định số 677/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đóng góp trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thất bại thị trường và cung cấp bức tranh thực nghiệm chuẩn xác về chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015. Trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2020, các cơ quan ban ngành cần khẩn trương cụ thể hóa các cơ chế bảo lãnh và ưu đãi tài khóa. Các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp hãy cùng bắt tay hành động để đưa đổi mới công nghệ trở thành động lực then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.