Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Cơ sở lý luận về công nghệ, đổi mới công nghệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công cụ thuế, thuế suất, vai trò của các công cụ thuế và ảnh hưởng đối với hoạt động đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp; Chương 2: Thực trạng việc áp dụng thuế suất để déi mới công nghệ trong các DNNVV và trong lĩnh vực chế biến dừa ở tỉnh Bến Tre. - Tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre. - Thực trạng hoạt động và phát triển của các DNNVV tại tỉnh Bến Tre.
- Thực trạng công nghệ và đổi mới công nghệ trong các DNNVV và trong lĩnh vực chế biến dừa tỉnh Bến Tre. - Thực trạng sử dụng công cụ thuế suất để khuyến khích ĐMCN cho các doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre. Chương 3: Giải pháp sử dụng công cụ thuế suất để khuyến khích ĐMCN trong các DNNVV, cụ thé trong linh vuc ché bién dita tai tinh Bén Tre. - Muc tiéu cua cac giai phap - Phân loại các nhóm DNNVV, cụ thé các DNCBD tinh Bến Tre - Đề xuất các giải pháp sử dụng công cụ thuế suất để khuyến khích DMCN trong các DNCBD tỉnh Bến Tre: KET LUẬN KHUYÉN NGHỊ.
14 PHAN NỘI DUNG CHUONG 1. CO SO LY LUAN 1. Công nghệ và đỗổi mới công nghệ 1.1 Khái niệm về công nghệ Trong lịch sử xã hội loài người, khái nệm Công nghệ được hình thành từ khá lâu và được sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tác giả đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ. Có thể nêu một số khái niệm điển hình sau đây: - Theo quan niệm cô điển nhất, Công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến vật chất và / hoặc thông tin.Jones, năm 1970 cho răng, Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyền thành hàng hoá.Root, Công nghệ là dạng kiến thức có thé áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới.Baranson, năm 1976 đưa ra: Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/ và các kỹ thuật chế biến cần thiết đề sản xuất ra các vật liệu, cầu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.Dunning, năm 1982, Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm va dịch vụ mới.Strunk, năm 1986 cho rằng, Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp.
Công nghệ là kiến thức có sẵn trong óc con người không phải là hàng hoá. - Theo Nawar Sharif, năm 1986 đã đưa ra một định nghĩa khá khái quát về công nghệ. Công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất và/ hoặc thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất và/ hoặc thông tin. Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật (vật thể), phần thông tin, phần con người và phần thiết chế tổ chức.
Đây 15 cũng là 4 yếu tổ công nghệ theo quan điểm của Trung tâm chuyền giao công nghệ Châu A - Thái Bình Dương (APCTT). - Ông Graham, năm 1988 đưa ra định nghĩa: Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ. Một số tô chức quốc tế đã đưa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau. - Tổ chức PRODEC năm 1982 cho rang, Công nghệ là một loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ.
- Trước đó, năm 1972, tô chức UNCTAD cho răng, Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất. Nó được mua bán trên thị trường như một hàng hoá. - Ngân hàng thế giới năm 1985 đưa ra định nghĩa: Công nghệ là phương pháp chuyên hoá các nguồn thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: + Thông tin về phương pháp. + Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp thực hiện việc chuyền hoá.
+ Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thé nao và tại sao? - Tổ chức OECD, gồm các nước phát triển châu Âu, Nhật bản, Mỹ và Canada lại có một định nghĩa chung: Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định. - Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) thì Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp. - Theo Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á - Thái bình dương (ESCAP), Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật liệu thành thông tin. Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý.
Trên cơ sở tập hợp và khái quát các định nghĩa về công nghệ nêu trên, tác giả Trần Ngọc Ca, năm 1987 đã đưa ra một khái niệm hợp lý về công nghệ như 16 sau: Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bi quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép.) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ.) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ. - Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2000 đã đưa ra định nghĩa khái quát: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. - Theo Luật chuyển giao công nghệ, năm 2006 (số 80/2006/QH ngày 29/11/2006) và Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi năm 2013 (số 29/2013/QH ngày 18/6/2013 của Quốc hội): Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Tác giả luận văn cơ bản tuân theo khái niệm pháp lý này.
Đặc điểm của công nghệ Bắt kỳ một công nghệ nào cũng có 5 đặc điểm cơ bản là: - Công nghệ trước hết là khoa học “Làm” tức là hệ thống tri thức về các giải pháp hành động, khác với khoa học “Hiểu” (Vũ Cao Dam). - Công nghệ hoạt động lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm. - Công nghệ tồn tại theo chu kỳ, phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm. Nó tồn tại và phát triển qua các giai đoạn: Ra đời — Tăng trưởng - Thịnh vượng — Bảo hoà - Tiêu vong.
- Sản phẩm của công nghệ được xác định trước theo thiết kế. - Hoạt động công nghệ mang tính tin cậy cao, trên cơ sở một quy trình đã được nhà chế tạo chuẩn hoá va được người sản xuất làm chủ. Đối mới công nghệ 1. Khái niệm về đổi mới công nghệ Chúng ta có thé hiểu Đối mới (Innovation) là việc tao ra và phát triển một ý tưởng nào đó và đưa nó vào áp dụng trong cuộc sống.
Trong khoa học có thể nói đôi mới là quá trình thương mại hoá thành công một sáng chê. Đôi mới là 17 quá trình tìm kiếm, tiếp thu và sử dụng tri thức nên không thể là một việc chốc lát. Thành công không chỉ được đo bằng một đổi mới thành công mà bang cả một chuỗi các đổi mới. PMCN chính là quá trình thương mai hoá thành công một sáng chế.
Sáng chế hay sáng tạo chính là việc tạo ra ý tưởng mới, còn đôi mới chính là dùng những ý tưởng này để tạo ra lợi ích. Trong phạm vi doanh nghiệp, ĐMCN có thé là đổi mới quy trình sản xuất hoặc đổi mới sản phẩm. Quản lý công nghệ và quản lý quá trình DMCN là một nội dung quan trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác quản trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp là chủ thê của quá trình học hỏi và ĐMCN.
Qua khảo sát thực tế cho thấy các DNNVV ở Bến Tre thường hiểu DMCN là quá trình thay thế, bé sung, hoàn thiện công nghệ cũ, lạc hậu thành công nghệ mới tiên tiến hơn, đồng bộ hơn. Đổi mới làm phát sinh nhu cầu công nghệ ở nhiều dạng khác nhau. Vai trò của hoạt động đổi mới công nghệ PMCN có thé anh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở cấp độ doanh nghiệp, nơi tạo ra ĐMCN và có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Công nghệ được coi là nhân tố quan trọng tạo ra khả năng cạnh tranh của một quốc gia.
Nếu không có phát triển công nghệ, một quốc gia có thê đạt được tăng trưởng cao chăng hạn như thông qua mức sống cao, tích lũy tư bản lớn nhưng họ không thể có tăng trưởng lâu dài và bền vững. Những ảnh hưởng của công nghệ đến tăng trưởng kinh tế tùy thuộc vào sự phon thịnh về kinh tế của từng quốc gia. Vào giai đoạn dau, kha năng phát triển kinh tế thường phụ thuộc vào chuyên giao công nghệ từ nước ngoài. Các quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế cao hon sẽ chuyền đến giai đoạn phô biến công nghệ.
Với các quốc gia phát triển cao hơn nữa, bản thân họ sẽ trở thành những người sáng tạo công nghệ mới đề duy trì tăng trưởng kinh tế cao. Theo tác giả Porter (1990), năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể trải qua 3 giai đoạn phát triển thông qua hình thái phát triển của các ngành công nghiệp. Các giai đoạn như sau: 18 Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển của năng lực cạnh tranh quốc gia Định hướng Định hướng Định hướng theo đâu vào =| theo sức đầu tư = theo đổi mới Giá đầu vào Hiệu quả Giá trị riêng biệt Trong giai đoạn định hướng phát triển theo đầu vào, các nhân tố cơ bản như giá lao động rẻ và việc dé dàng tiếp cận với các nguồn lực tự nhiên là những nguồn lực quyết định khả năng cạnh tranh quốc gia và là điều kiện để thâm nhập thị trường quốc tế. Các hãng chủ yếu sản xuất các sản phẩm đơn giản, được thiết kế ở nước khác có trình độ tiến tiến hơn.