MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế để tăng cƣờng xuất khẩu bằng các hiệp định nhƣ Hiệp định Thƣơng mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Thƣơng mại Tự do ASEAN - Trung Quốc, Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA), Hiệp định Thƣơng mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc, Hiệp định Thƣơng mại Tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU - bao gồm các nƣớc Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan). Thời gian gần đây (2020) kinh tế thế giới tăng trƣởng chậm lại và biến chuyển khó dự đoán, một phần xuất phát từ các thay đổi trong chính sách thƣơng mại của Hoa Kỳ, chiến tranh thƣơng mại Mỹ - Trung kéo dài và ngày càng phức tạp. Ngoài ra xu hƣớng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch chung trên thế giới đã tác động đến sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam.
Để phát triển thị trƣờng, Việt Nam đã tích cực, chủ động đề xuất, tham gia các hiệp định thƣơng mại tự do đa quốc gia nhƣ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dƣơng (CPTPP) chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 14/1/2019; còn Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam - Cộng đồng châu Âu (EVFTA) có hiệu lực ngày 01/8/2020. Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 5 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand, RCEP tạo ra một khu vực thƣơng mại tự do lớn với khoảng 3 tỷ dân và chiếm 30% tổng GDP toàn cầu đã bắt đầu đàm phán từ ngày 9/5/2013 và dự kiến ký trong năm 2020. Tuy nhiên khi cơ hội xuất khẩu sản phẩm Việt Nam tăng nhanh thì các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận một môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu nhiều rủi ro với các công ty đa quốc gia. Để nâng cao ƣu thế cạnh tranh trên thị trƣờng trong nƣớc và thế giới, doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và bổ sung thêm các sản phẩm mới.
Hiện nay số lƣợng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam ngày càng tăng, chiếm đa số trong nền kinh tế (trên 90% doanh nghiệp năm 2020) nhƣng có đặc điểm là hạn chế về tài sản thế chấp và kỹ năng quản lý nên khó tiếp cận nguồn vốn vay từ phía các 1 ngân hàng và các tổ chức tín dụng để đổi mới công nghệ nhằm phát triển kinh doanh. Ngoài ra hoạt động đổi mới công nghệ cũng bao hàm nhiều rủi ro nên cần có nguồn vốn đầu tƣ phù hợp. Nhiều năm qua trên thế giới, vốn đầu tƣ mạo hiểm đã và đang đầu tƣ vào lãnh vực đổi mới sáng tạo có lợi nhuận cao của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (chứ không chỉ riêng hoạt động khởi nghiệp). Các quỹ đầu tƣ mạo hiểm với triết lý kinh doanh “rủi ro cao và lợi nhuận lớn” đã đầu tƣ vào rất nhiều ngành sản xuất và đạt nhiều kết quả kinh doanh nổi trội tại các nƣớc phát triển và mở ra mô hình hợp tác kinh doanh mới giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa (đang thiếu vốn) với quỹ đầu tƣ mạo hiểm mà không cần tài sản thế chấp.
Do điều kiện đặc thù nên Việt Nam tập trung phát triển nguồn vốn hỗ trợ phát triển doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng nhƣ ngân hàng, … nhƣng trƣớc sự đòi hỏi nguồn cung vốn dồi dào để phát triển mạnh nền kinh tế quốc gia đáp ứng các thị trƣờng mới mở từ các hiệp định, nguồn vốn này cũng không thỏa mãn nhu cầu về quy mô cho vay và điều kiện cho vay. Xu thế chung trên thế giới các quốc gia tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa để huy động vốn và sự năng động của nhân dân [OECD; 2020]. Ở Việt Nam Chính phủ tập trung phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm cơ sở tăng trƣởng kinh tế, nhiều chủ trƣơng chính sách đã đƣợc ban hành trong những năm gần đây nhằm tạo môi trƣờng thích hợp, điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động sản xuất và tham gia xuất khẩu. Trong các hỗ trợ từ Chính phủ thì nguồn vốn cho đổi mới công nghệ chƣa đƣợc đáp hoàn toàn do nguồn ngân sách và vốn tín dụng trong nƣớc còn hạn chế.
Hiện nay (năm 2020) Việt Nam chƣa có một văn bản luật hay văn bản dƣới luật riêng biệt, hoàn chỉnh quy định về quỹ đầu tƣ mạo hiểm với nội dung đầy đủ các công cụ, giải pháp về ƣu đãi đầu tƣ, các hỗ trợ từ chính phủ, cơ sở vật chất kỹ thuật liên quan để khuyến khích, thu hút quỹ đầu tƣ mạo hiểm trên thế giới đầu tƣ vào Việt Nam. Trên thực tế các nội dung về quỹ đầu tƣ mạo hiểm chỉ đƣợc nêu một phần nhỏ, không toàn diện trong các văn bản khác nhau về khoa học công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp và thiếu các công cụ, giải pháp cụ thể, … do đó chƣa thực sự thu hút đƣợc các nhà đầu tƣ vốn mạo hiểm rất dồi dào trên thế giới đang tìm các hoạt động có lợi nhuận cao nhƣ đổi mới công nghệ, khởi nghiệp để đầu tƣ. Ngoài ra ngành cơ khí chế tạo đƣợc thế giới xem là ngành sản 2 xuất cơ bản tạo ra máy móc, thiết bị, công nghệ và chi phối sự phát triển tất cả sản phẩm của nền kinh tế. Để đổi mới các sản phẩm quốc gia nhằm tăng cƣờng ƣu thế cạnh tranh và đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu thì đầu tiên phải đổi mới công nghệ ngành cơ khí chế tạo.
Các quốc gia đều đầu tƣ vào cơ sở phát triển cơ khí chế tạo để nâng cao trình độ và đảm bảo yêu cầu phát triển của các ngành khác và chiếm ƣu thế cạnh tranh trong thế kỷ 21, đáp ứng các yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu đổi mới quy mô quốc gia, công nghiệp tự động trong y học, xu hƣớng chế tạo sản phẩm chuyên ngành,. Ở Việt Nam ngành cơ khí chế tạo phục vụ rất đa dạng và phong phú nhƣ sản xuất phụ tùng ôtô, xe máy, phụ kiện máy tính, các thiết bị tự động hóa phục vụ nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp hỗ trợ; nuôi trồng thủy sản; chế biến hàng tiêu dùng bằng gỗ; dệt may, da giày,. với sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành cơ khí chế tạo. Tóm lại để phát triển quốc gia đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế thế giới, cần phải đổi mới các sản phẩm trong nền kinh tế quốc gia.
Để phát triển hiệu quả và chủ động về đổi mới công nghệ các sản phẩm thì đầu tiên phải đổi mới công nghệ ngành cơ khí chế tạo trong nƣớc. Hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chiếm đa số trong ngành cơ khí chế tạo, nhƣng do tài sản thế chấp nhỏ, dự án đổi mới công nghệ có tiềm ẩn nhiều rủi ro, quản lý chƣa chặt chẽ nên khó tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng trong nƣớc. Một đặc điểm của ngành cơ khí chế tạo là cần vốn đầu tƣ lớn, khấu hao chậm, thị trƣờng không lớn, dễ bị cạnh tranh do hàng giả, hàng nhái. Trên thế giới hiện nay quỹ đầu tƣ mạo hiểm đang hỗ trợ vốn và kỹ năng quản lý, tiếp cận thị trƣờng, nâng cao hiệu quả đầu tƣ cho các doanh nghiệp có lợi nhuận lớn và rủi ro cao nhƣ các dự án đổi mới công nghệ, khởi nghiệp.
Tuy nhiên trƣớc khi đầu tƣ vào các quốc gia, nhà đầu tƣ thƣờng nghiên cứu và so sánh chính sách (của các quốc gia) liên quan hoạt động của mình nhằm tìm ra điều kiện ƣu đãi nhất về đầu tƣ kinh doanh thông qua các công cụ, giải pháp về ƣu đãi đầu tƣ, các hỗ trợ từ chính phủ, cơ sở vật chất kỹ thuật liên quan trong khung chính sách. Do đó để thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tƣ mạo hiểm trên thế giới đang tìm kiếm các cơ hội đầu tƣ vào các hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành cơ khí chế tạo, Việt Nam cần 3 có một chính sách phát triển quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp bao gồm các ƣu đãi đầu tƣ, các hỗ trợ từ chính phủ, cơ sở vật chất kỹ thuật liên quan,. (thể hiện bằng một văn bản pháp quy riêng biệt bao hàm khung chính sách) hấp dẫn các nhà đầu tƣ mạo hiểm trên thế giới và các doanh nghiệp cơ khí chế tạo. Từ yêu cầu này đã hình thành một nghiên cứu có tên “Chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp (Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp cơ khí chế tạo tại thành phố Hồ Chí Minh)”.
Mục tiêu của Luận án 2. Mục tiêu tổng quát Hình thành khung chính sách phát triển quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp. Mục tiêu cụ thể - Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về chính sách phát triển quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, nghiên cứu cơ sở khoa học về chính sách phát triển quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp; nghiên cứu thực trạng chính sách phát triển quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp và hình thành khung chính sách phát triển quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp. - Đề xuất một mô hình liên doanh phù hợp giữa quỹ đầu tƣ mạo hiểm và các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo.
Đối tƣợng nghiên cứu Các yếu tố trong khung chính sách phát triển quỹ đầu tƣ mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu về thời gian Thời gian từ năm 2014 đến năm 2018. Phạm vi nghiên cứu về không gian Luận án khảo sát các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo tại thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu về nội dung Luận án giới hạn nội dung nghiên cứu: chính sách phát triển quỹ đầu tƣ mạo hiểm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp cơ khí chế tạo với các dự án đầu tƣ khả năng sinh lợi cao.