Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ với đề tài "Chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp (Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp cơ khí chế tạo tại thành phố Hồ Chí Minh)" được nghiên cứu sinh Phạm Duy Hiếu thực hiện tại Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Văn Hải, hoàn thành vào tháng 10 năm 2020.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng thông qua các hiệp định thương mại như ATIGA, VJEPA, CPTPP, EVFTA và tiến trình ký kết RCEP, các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với môi trường cạnh tranh toàn cầu gay gắt. Ngành cơ khí chế tạo giữ vai trò nền tảng sản xuất máy móc, trang thiết bị và chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế (từ phụ tùng ô tô, xe máy, linh kiện máy tính đến thiết bị nông nghiệp công nghệ cao, dệt may, da giày). Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cơ khí chế tạo chiếm trên 90% số lượng doanh nghiệp năm 2020 nhưng gặp rào cản lớn về tài sản thế chấp và kỹ năng quản lý, dẫn tới việc khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng truyền thống để tài trợ cho các hoạt động đổi mới công nghệ vốn tiềm ẩn rủi ro cao và chu kỳ hoàn vốn kéo dài. Khoảng trống thực tiễn và pháp lý cốt lõi được tác giả xác định là: tính đến năm 2020, Việt Nam chưa có một văn bản luật hoặc văn bản dưới luật chuyên biệt, hoàn chỉnh quy định về quỹ đầu tư mạo hiểm với đầy đủ các công cụ ưu đãi, hỗ trợ của chính phủ và hạ tầng kỹ thuật tương thích; các nội dung liên quan chỉ nằm rải rác, thiếu đồng bộ trong một số văn bản pháp quy về khoa học công nghệ hoặc hỗ trợ doanh nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  • Mục tiêu tổng quát: Hình thành khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp;
    2. Nghiên cứu cơ sở khoa học về chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo;
    3. Đánh giá thực trạng chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm và thực trạng đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành cơ khí chế tạo tại Việt Nam;
    4. Hình thành khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo;
    5. Đề xuất mô hình liên doanh phù hợp giữa quỹ đầu tư mạo hiểm và các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành cơ khí chế tạo.

Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được đánh số chuẩn xác theo văn bản luận án:

  • 5.1. Câu hỏi nghiên cứu chính: Khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp như thế nào để thu hút các nhà đầu tư mạo hiểm và các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo đổi mới công nghệ?
  • 5.2. Câu hỏi nghiên cứu phụ: Mô hình liên doanh phù hợp giữa quỹ đầu tư mạo hiểm và các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo như thế nào?
  • 5.3. Giả thuyết nghiên cứu chính: Để đảm bảo chính sách mang tính khả thi cao thì khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp phải bao gồm các yếu tố về lợi ích thúc đẩy sự đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm, phát triển các hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo và đảm bảo các yêu cầu quản lý nhà nước.
  • 5.4. Giả thuyết nghiên cứu phụ: Để đảm bảo sự liên kết và phát triển bền vững thì mô hình liên doanh giữa quỹ đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo phải bao gồm các thành phần có lợi ích gắn bó lâu dài.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố trong khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 (cuộc khảo sát định lượng chính thức tiến hành từ đầu tháng 3 năm 2018 đến cuối tháng 6 năm 2018).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và tham vấn cơ quan quản lý tại 7 tỉnh, thành phố phía Nam.
  • Phạm vi nội dung: Giới hạn nghiên cứu chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm thúc đẩy đổi mới công nghệ cho các dự án có khả năng sinh lợi cao của các doanh nghiệp thuộc Tiểu mục 203 (Kỹ thuật cơ khí, chế tạo máy) thuộc Mục 2 (Khoa học kỹ thuật và công nghệ) theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN ngày 04/9/2008 của Bộ Khoa học và Công nghệ; nghiên cứu chỉ viện dẫn việc áp dụng các văn bản pháp quy sẵn có mà không điều chỉnh trực tiếp các văn bản này.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu học thuật trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính: mối quan hệ giữa đầu tư mạo hiểm với đổi mới công nghệ, và mối quan hệ giữa chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm với việc thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp.

Ở nhóm nghiên cứu quốc tế về mối quan hệ giữa đầu tư mạo hiểm và đổi mới công nghệ:

  • Timmons, Jeffry và Bygrave, William D. đã khảo sát 1.501 khoản đầu tư giai đoạn 1967-1982 tại Hoa Kỳ, chứng minh các khoản đầu tư mạo hiểm vòng đầu vào các dự án "sáng tạo cao" tăng trưởng mạnh hơn các dự án thông thường, đồng thời sự kết hợp giữa vốn mạo hiểm và doanh nghiệp công nghệ nhỏ giúp đẩy nhanh thương mại hóa sáng chế.
  • Báo cáo của OECD (từ thập niên 1990 đến năm 2020) xác nhận vai trò trọng yếu của vốn mạo hiểm đối với các doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa mà hệ thống ngân hàng truyền thống từ chối tài trợ, đề xuất bốn trụ cột chính sách: tạo môi trường đầu tư, giảm rủi ro cho nhà đầu tư, tăng tính thanh khoản và phát triển tinh thần kinh doanh.
  • Nghiên cứu của Ủy ban Châu Âu (EC, 2009) trên dữ liệu 21 quốc gia và 10 ngành sản xuất (1991-2005) khẳng định đầu tư mạo hiểm hỗ trợ đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp nhỏ và vừa hiệu quả vượt trội so với ngân hàng, đặc biệt tại các quốc gia có độ mở cửa kinh tế cao và nguồn nhân lực chất lượng tốt.
  • Pradhan và cộng sự (2017) khảo sát khu vực kinh tế Châu Âu giai đoạn 1989-2014, nhấn mạnh chính sách cần dung hòa các quan điểm khác biệt giữa nhà đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp đổi mới công nghệ để duy trì sự hợp tác bền vững.
  • Nghiên cứu trên 176 doanh nghiệp sản xuất của Pháp giai đoạn 1993-2006 (gồm 88 doanh nghiệp nhận vốn mạo hiểm và 88 doanh nghiệp không nhận vốn mạo hiểm) chỉ ra tác động hai giai đoạn: tái lập cấu trúc quản trị ban đầu có thể làm chậm đổi mới, nhưng sau khi ổn định sẽ làm tăng mạnh hiệu quả đổi mới công nghệ.

Ở nhóm nghiên cứu quốc tế về khung chính sách phát triển đầu tư mạo hiểm:

  • Henry Chesbrough và Wim Vanhaverbeke (2011) với công trình về đổi mới mở và chính sách công ở Châu Âu, nêu bật vai trò của đào tạo nhân lực, bảo vệ sở hữu trí tuệ và nguồn tài chính mở.
  • Caio Cezar Monteiro Ramalho (2011) phân tích chính sách công đối với 127 doanh nghiệp vốn tư nhân và đầu tư mạo hiểm tại Brazil.
  • Krista Tuomi và Lopo De Castro Neto (2013) nghiên cứu so sánh chính sách đổi mới và đầu tư mạo hiểm tại Brazil và Nam Phi.
  • Willem Koenders (2013) tổng kết chính sách đầu tư mạo hiểm tại Hà Lan; Karen E. đúc kết bài học tài trợ cho doanh nghiệp đổi mới.
  • Đặc biệt, hai công trình nền tảng được tác giả khai thác sâu: R. Vidra (2012, 2014) với nghiên cứu "All Politics is Local: Sources of variance in the diffusion of venture capital policies" phân tích bộ dữ liệu 46 quốc gia và danh mục các công cụ chính sách công; Iman A. Seoudi (2014) với "Public Policy for Venture Capital: A Review of the Literature" tổng quan toàn diện các chính sách về thuế, trợ cấp nghiên cứu, hạ tầng kỹ thuật và công nhận cấu trúc công ty hợp danh hữu hạn (Limited Partnership - LP).

Ở nhóm nghiên cứu trong nước:

  • Phan Đức Thiện (2004) nghiên cứu giải pháp khuyến khích vốn đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam.
  • Phạm Đại Dương (2009) phân tích kênh huy động vốn cho doanh nghiệp khoa học công nghệ, kiến nghị nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và phát huy vai trò vốn mồi của ngân sách.
  • Lê Tuấn Anh (2014) khảo sát chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ trong cụm công nghiệp gốm tại Biên Hòa, Đồng Nai.
  • Nguyễn Phương Ly (2015) chỉ ra các rào cản tiếp cận vốn ngân hàng và kiến nghị ban hành luật về đầu tư mạo hiểm, thành lập hiệp hội đầu tư mạo hiểm.
  • Nguyễn Thu Nhã (2015) khảo sát trường hợp hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm hỗ trợ đổi mới công nghệ tại tỉnh Hải Dương.
  • Phạm Duy Hiếu (2018) phân tích chính sách đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam và nguồn tài chính đổi mới công nghệ trong cơ khí nông nghiệp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Các công trình trước đây đa phần tiếp cận đơn lẻ, tập trung vào việc kiến nghị sửa đổi một vài chính sách kinh tế vĩ mô hoặc xem xét riêng rẽ phía cung vốn hay phía cầu vốn mà chưa thiết kế một khung chính sách hoàn chỉnh theo hướng tiếp cận "ba bên liên quan" (Stakeholders), bao gồm: bên cung vốn (quỹ đầu tư mạo hiểm), bên cầu vốn (doanh nghiệp cơ khí chế tạo đổi mới công nghệ) và cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, chưa có công trình nào giải quyết cụ thể mô hình liên doanh đầu tư mạo hiểm kết hợp nguồn vốn mồi ngân sách với khu vực tư nhân dành riêng cho doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết và khung phân tích, luận án vận dụng các lý thuyết kinh tế và khoa học quản lý:

  1. Lý thuyết cung cầu: Phân tích sự tương tác giữa bên cung ứng vốn mạo hiểm và bên có nhu cầu vốn đổi mới công nghệ.
  2. Lý thuyết hệ thống: Xem xét chính sách như một chỉnh thể hữu cơ tương tác với môi trường kinh tế - thể chế.
  3. Lý thuyết phân tích chính sách: Áp dụng khung phân tích của Peter Knoepfel (2007) để xác định nội dung, thu thập dữ liệu, phân tích các yếu tố cấu thành và đánh giá ảnh hưởng của các công cụ chính sách.
  4. Lý thuyết hoạch định chính sách: Xác định quy trình ban hành của nhà nước nhằm thiết lập môi trường chia sẻ rủi ro giữa nhà đầu tư và doanh nghiệp.
  5. Khung khái niệm đổi mới theo Cẩm nang Oslo (Oslo Manual phiên bản 4 năm 2018): Phân biệt rõ "hoạt động đổi mới" (innovation activities - thể hiện quá trình phát triển, tài chính, thương mại) và "đổi mới" (innovation - kết quả đạt được); kết hợp tiêu chuẩn đánh giá chính sách của ILO.

Khung phân tích của luận án (Hình 2.3) liên kết các yếu tố bên ngoài, yếu tố bên trong tác động đến đổi mới công nghệ và hệ sinh thái đầu tư mạo hiểm. Bản chất khác biệt căn bản giữa hai nguồn vốn được tác giả tổng hợp tại Bảng 2.1:

Tiêu chí so sánh Hỗ trợ ngân sách Nhà nước Vốn đầu tư mạo hiểm
Mục tiêu can thiệp Thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội, phát triển khoa học công nghệ công cộng, không ưu tiên tối đa hóa lợi nhuận. Tìm kiếm lợi nhuận thương mại cao tương xứng với mức độ rủi ro lớn từ các dự án công nghệ.
Cơ chế thu hồi và chia sẻ rủi ro Thẩm định theo thủ tục hành chính nghiêm ngặt, ràng buộc hoàn trả hoặc quyết toán vốn công, không chấp nhận rủi ro kinh doanh. Cùng chịu rủi ro mất vốn; lợi nhuận được chia sẻ thông qua tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần và thoái vốn.
Hỗ trợ phi tài chính Thường chỉ giới hạn ở việc cấp phát kinh phí, kiểm tra hành chính định kỳ. Trực tiếp tham gia quản trị, kiểm soát chất lượng, cung cấp mạng lưới thị trường và tư vấn kỹ thuật.
Thời gian giải ngân và linh hoạt Quy trình phê duyệt qua nhiều tầng nấc hành chính, độ trễ thời gian lớn. Đưa ra quyết định nhanh chóng, linh hoạt theo các vòng gọi vốn và cột mốc thương mại hóa.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp phương pháp định tính và định lượng (nghiên cứu hỗn hợp):

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Khảo sát các công trình khoa học trong và ngoài nước, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đầu tư mạo hiểm và đổi mới công nghệ tại Việt Nam.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu định tính: Được thực hiện với 3 nhóm đối tượng liên quan (Phụ lục 3):
    • Nhóm 1: 12 nhà quản lý doanh nghiệp cơ khí chế tạo đã thực hiện hoặc đang có nhu cầu đổi mới công nghệ thuộc Hội Doanh nghiệp Cơ khí - Điện thành phố Hồ Chí Minh.
    • Nhóm 2: 05 quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động nhiều năm tại thành phố Hồ Chí Minh.
    • Nhóm 3: 12 cơ quan quản lý nhà nước phụ trách công thương và khoa học công nghệ thuộc 7 địa phương phía Nam (Sở Công Thương và Sở Khoa học và Công nghệ của TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, An Giang, TP. Cần Thơ).
  • Phương pháp tham vấn chuyên gia qua hội thảo khoa học: Tham gia hội thảo chuyên đề do Sở Công Thương thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với sự tham dự của đại diện UBND TP.HCM, Sở Khoa học và Công nghệ, Hội Doanh nghiệp Cơ khí - Điện TP.HCM và các quỹ đầu tư mạo hiểm.
  • Phương pháp khảo sát định lượng và kỹ thuật thống kê:
    • Mẫu khảo sát: Sử dụng kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên đơn giản đối với các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo tại TP.HCM. Bảng câu hỏi được phát trực tiếp thông qua Phòng Quản lý công nghiệp thuộc Sở Công Thương TP.HCM tại các hội nghị, hội thảo chuyên đề ngành cơ khí trong giai đoạn tháng 3/2018 đến tháng 6/2018 và thu hồi trực tiếp.
    • Công cụ xử lý: Phần mềm SPSS 20.
    • Quy trình phân tích số liệu: Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha và chỉ số tương quan biến - tổng (Item-Total Statistics) cho các nhóm biến; kiểm định tính thích hợp của dữ liệu qua hệ số KMO và Bartlett's Test cho cả biến độc lập và biến phụ thuộc; phân tích nhân tố khám phá EFA (Rotated Component Matrix, Total Variance Explained); phân tích hồi quy tuyến tính (Model Summary, Residuals Statistics); kiểm tra các giả định mô hình thông qua biểu đồ phần dư chuẩn hóa Histogram, Normal P-P Plot và biểu đồ phân tán Scatter Plot.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan các công trình khoa học đã công bố liên quan đến chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích bức tranh tổng thể các công trình nghiên cứu trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam. Tác giả chỉ rõ các bằng chứng thực nghiệm quốc tế đều khẳng định đầu tư mạo hiểm có vai trò vượt trội trong việc tài trợ cho hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp quy mô nhỏ nhờ cơ chế chia sẻ rủi ro và hỗ trợ năng lực quản trị. Nghiên cứu điểm lại các mô hình chính sách điển hình tại Hoa Kỳ, Châu Âu, Israel, Hà Lan, Canada, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga, Brazil và Nam Phi.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã chỉ ra sự bế tắc của các doanh nghiệp cơ khí trong việc tìm kiếm nguồn vốn tín dụng ngân hàng do thiếu tài sản thế chấp và chu kỳ khấu hao chậm. Điểm mấu chốt của chương là xác định các khoảng trống học thuật: chưa có công trình nào xây dựng khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm dựa trên việc cân bằng lợi ích của ba nhóm chủ thể (nhà nước, quỹ đầu tư, doanh nghiệp cơ khí chế tạo) và chưa đề xuất được mô hình liên doanh cụ thể phù hợp với thể chế kinh tế Việt Nam.

Chương 2. Cơ sở khoa học về chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo

Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về đổi mới, đổi mới công nghệ, đặc tính của vốn và cấu trúc quỹ đầu tư mạo hiểm. Tác giả phân loại và đối chiếu ba luồng quan điểm học thuật chính về mối quan hệ giữa đầu tư mạo hiểm và đổi mới công nghệ:

  • Quan điểm đồng nhất (Bảng 2.2): Khẳng định đầu tư mạo hiểm và đổi mới công nghệ có mối liên hệ nhân quả cùng chiều chặt chẽ; vốn mạo hiểm kích thích trực tiếp số lượng sáng chế và thương mại hóa sản phẩm.
  • Quan điểm bổ sung (Bảng 2.3): Cho rằng đầu tư mạo hiểm chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi đi kèm các yếu tố bổ trợ như năng lực hấp thụ công nghệ nội bộ của doanh nghiệp, chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và cơ sở hạ tầng ươm tạo.
  • Quan điểm trái chiều (Bảng 2.4): Cảnh báo sự tham gia của quỹ đầu tư mạo hiểm có thể làm phân tán định hướng dài hạn của người sáng lập, gia tăng áp lực thoái vốn ngắn hạn hoặc gây xung đột kiểm soát doanh nghiệp.

Về mô hình tổ chức, chương 2 phân tích cấu trúc quan hệ đối tác hữu hạn (Limited Partnership - LP) giữa nhà quản lý quỹ điều hành (General Partner - GP) và các nhà đầu tư góp vốn hữu hạn (Limited Partner - LP). Đồng thời, tác giả luận giải các lý thuyết cung - cầu, lý thuyết hệ thống, lý thuyết phân tích chính sách và hoạch định chính sách, kết hợp bộ tiêu chuẩn đánh giá chính sách của ILO (Bảng 2.5) để định hình khung lý luận cho luận án.

Chương 3. Thực trạng chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành cơ khí chế tạo tại Việt Nam

Chương 3 tập trung đánh giá thực trạng hệ thống văn bản pháp quy, hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm và năng lực đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp cơ khí.

  • Về văn bản pháp quy: Hệ thống pháp lý Việt Nam giai đoạn 2014-2020 thiếu vắng một đạo luật riêng về đầu tư mạo hiểm. Các quy định rải rác trong Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư chưa tạo hành lang bảo vệ cấu trúc công ty hợp danh hữu hạn và kênh thoái vốn IPO.
  • Về thực trạng quỹ đầu tư mạo hiểm: Luận án phân tích danh mục của các quỹ lớn như IDG Ventures Vietnam (Bảng 3.8), Vietnam Silicon Valley (VSV), Dragon Capital (Bảng 3.6 với 10 doanh nghiệp hàng đầu) và VinaCapital/DFJ (Bảng 3.7). Phần lớn các khoản đầu tư tập trung vào lĩnh vực ICT, thương mại điện tử và dịch vụ, gần như bỏ trống lĩnh vực cơ khí chế tạo do tính chất thâm dụng vốn và tỷ suất sinh lời chậm.
  • Về các rủi ro trong đổi mới công nghệ ngành cơ khí: Tác giả nhận diện hệ thống 9 rủi ro trọng yếu gồm rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tập trung, rủi ro tín dụng, rủi ro tái đầu tư, rủi ro lạm phát, rủi ro thời gian, rủi ro tuổi thọ và rủi ro đầu tư nước ngoài.
  • Về năng lực đổi mới của doanh nghiệp cơ khí: Sử dụng dữ liệu tổng hợp và điều tra thực tế, tác giả phản ánh qua hàng loạt bảng thống kê chuyên sâu:
    • Mục tiêu đổi mới công nghệ quốc gia và Chỉ số Đổi mới Toàn cầu (GII) của Việt Nam so với khu vực (Bảng 3.9, 3.10);
    • Mục đích và hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp cơ khí (Bảng 3.11, 3.12);
    • Tỷ lệ đầu tư cho đổi mới công nghệ trên doanh thu của ngành cơ khí còn ở mức rất thấp (Bảng 3.13);
    • Rào cản lớn nhất đối với đổi mới công nghệ ngành cơ khí chính là thiếu hụt nguồn vốn đầu tư và chi phí công nghệ cao (Bảng 3.14);
    • Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới so với không đổi mới, phân bổ theo quy mô và loại hình sở hữu kinh tế (Bảng 3.15, 3.16, 3.17, 3.18);
    • Phân tích so sánh năng lực cạnh tranh ngành qua Hình 3.4 về quy mô công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô giữa Thái Lan và Việt Nam;
    • Thiết lập Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài EFE (Bảng 3.19), Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong IFE (Bảng 3.20) và Ma trận SWOT (Bảng 3.21) cho ngành cơ khí chế tạo.
  • Về quy trình điều tra và kiểm định mô hình: Thực hiện quy trình nghiên cứu chuẩn tắc (Hình 3.5, 3.6), tổng hợp ý kiến phỏng vấn sâu 3 nhóm liên quan (Bảng 3.22), xác định danh mục biến khảo sát (Bảng 3.23) và kiểm định thống kê trên SPSS 20 (chi tiết tại Phụ lục 4 và Phụ lục 5).

Chương 4. Khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo

Trên cơ sở kết quả phân tích định tính và định lượng, Chương 4 phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế (các FTA thế hệ mới, sự chuyển dịch chuỗi cung ứng, cạnh tranh thương mại) và xác lập nội dung cốt lõi của khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm thúc đẩy đổi mới công nghệ ngành cơ khí. Khung chính sách được cấu thành từ 6 yếu tố trọng tâm:

  1. Nâng cao năng lực đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp: Xây dựng lộ trình công nghệ, hỗ trợ kỹ năng lập dự án và chuẩn hóa hệ thống quản trị nội bộ.
  2. Điều kiện được đầu tư mạo hiểm: Minh bạch báo cáo tài chính, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xác định tính khả thi thương mại và tỷ suất sinh lời của sản phẩm cơ khí.
  3. Quy chế quỹ đầu tư mạo hiểm: Hoàn thiện hành lang pháp lý công nhận mô hình đối tác hữu hạn (LP), hợp đồng đầu tư linh hoạt, cơ chế phân chia lợi nhuận và thủ tục thoái vốn an toàn.
  4. Phát triển cơ sở hạ tầng: Hình thành các trung tâm ươm tạo công nghệ cơ khí, khu công nghiệp chuyên ngành, phòng thí nghiệm dùng chung và mạng lưới kết nối cung - cầu công nghệ (Techmart).
  5. Phát triển các loại quỹ đầu tư mạo hiểm: Đa dạng hóa các loại hình quỹ tư nhân trong nước, quỹ đầu tư mạo hiểm của tập đoàn doanh nghiệp (CVC), mạng lưới nhà đầu tư thiên thần và quỹ quốc tế.
  6. Hỗ trợ của chính phủ: Cung cấp nguồn vốn mồi ngân sách, áp dụng chính sách tín dụng thuế, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp khi thoái vốn và bảo lãnh rủi ro ban đầu.

Bên cạnh khung chính sách, tác giả đề xuất mô hình liên doanh đầu tư mạo hiểm hỗn hợp ba bên gồm: Quỹ vốn mồi của Nhà nước (đóng vai trò bảo trợ, cấp vốn mồi ban đầu) - Các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân/quốc tế (nắm quyền điều hành chuyên nghiệp, thẩm định dự án) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa cơ khí chế tạo TP.HCM (cung cấp công nghệ, năng lực sản xuất thực tế).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án mang lại các đóng góp:

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm gắn liền với đặc thù đổi mới công nghệ trong ngành cơ khí chế tạo – một ngành sản xuất nền tảng nhưng gặp nhiều trở ngại về tích lũy vốn và tài sản bảo đảm.
  • Thiết lập khung tiếp cận đa bên (Three-Stakeholders Approach) trong phân tích và hoạch định chính sách, kết nối hài hòa mục tiêu quản lý vĩ mô của Nhà nước, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kèm kiểm soát rủi ro của Quỹ đầu tư mạo hiểm, và mục tiêu tiếp cận vốn để hiện đại hóa sản xuất của Doanh nghiệp nhỏ và vừa cơ khí.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp các phát hiện và giải pháp:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng chính sách, rào cản vốn và hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp cơ khí chế tạo tại thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2014-2018.
  • Đề xuất khung chính sách gồm 6 yếu tố khả thi, làm luận cứ khoa học để các cơ quan quản lý (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt về đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam.
  • Thiết kế mô hình liên doanh đầu tư mạo hiểm hỗn hợp ba bên (Nhà nước góp vốn mồi - Quỹ tư nhân quản lý - Doanh nghiệp thực hiện), giải quyết trở ngại về cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính trong lĩnh vực chế tạo máy.
  • Hệ thống hóa các khuyến nghị thực tiễn: đơn giản hóa thủ tục hành chính một cửa, thiết lập cơ chế ưu đãi thuế khấu trừ chi phí R&D, thúc đẩy thị trường chứng khoán thứ cấp hỗ trợ thoái vốn bằng hình thức IPO, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật cơ khí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Về phạm vi không gian: Nghiên cứu thực nghiệm định lượng chỉ giới hạn khảo sát các doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các trung tâm cơ khí lớn khác ở phía Bắc và miền Trung (như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Nam).
  • Về phạm vi đối tượng: Luận án chỉ tập trung vào nhóm doanh nghiệp thuộc Tiểu mục 203 (Kỹ thuật cơ khí, chế tạo máy) theo Quyết định 12/2008/QĐ-BKHCN có dự án khả năng sinh lợi cao, chưa bao quát toàn bộ các phân ngành cơ khí phụ trợ khác.
  • Về phương diện pháp lý: Nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc viện dẫn, đánh giá thực thi các văn bản pháp quy hiện hành tính đến năm 2020 mà không trực tiếp can thiệp điều chỉnh các điều khoản luật chuyên ngành.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát định lượng sang các tỉnh, thành phố công nghiệp trọng điểm khác trên cả nước để so sánh sự khác biệt vùng miền về nhu cầu vốn mạo hiểm.
  • Kiểm chứng thực nghiệm mô hình liên doanh ba bên đề xuất trên các dự án thí điểm cụ thể trong lĩnh vực chế tạo thiết bị nông nghiệp công nghệ cao hoặc phụ tùng công nghiệp hỗ trợ.
  • Cập nhật và đánh giá tác động của hệ thống văn bản pháp luật mới ban hành sau năm 2020 điều chỉnh hoạt động của các quỹ đổi mới sáng tạo khởi nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND các tỉnh, thành phố): Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế khung chính sách chuyên biệt, điều chỉnh quy định về thuế, công nhận mô hình quỹ hợp danh hữu hạn và cơ chế sử dụng ngân sách làm "vốn mồi".
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Kinh doanh, Tài chính: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phân tích chính sách định tính với kỹ thuật xử lý định lượng trên SPSS 20; tham khảo tổng quan tài liệu về đầu tư mạo hiểm và Cẩm nang Oslo 2018.
  • Đối với hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp cơ khí chế tạo: Giúp các nhà quản trị nhận thức rõ các điều kiện nhận vốn đầu tư mạo hiểm, quản trị rủi ro công nghệ và chuẩn bị năng lực để tham gia các mô hình liên doanh vốn cổ phần.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải quyết vấn đề cốt lõi nào của các doanh nghiệp cơ khí chế tạo tại TP.HCM?
Luận án giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn vốn cho đổi mới công nghệ do doanh nghiệp nhỏ và vừa cơ khí chế tạo khó tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng vì thiếu tài sản thế chấp và rủi ro công nghệ cao. Nghiên cứu đề xuất phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm như một kênh tài trợ vốn cổ phần không đòi hỏi thế chấp, đi kèm hỗ trợ năng lực quản trị.

2. Khung chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm trong luận án gồm những yếu tố nào?
Khung chính sách được xác lập tại Chương 4 gồm 6 yếu tố: (1) Nâng cao năng lực đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp; (2) Điều kiện được đầu tư mạo hiểm; (3) Quy chế quỹ đầu tư mạo hiểm; (4) Phát triển cơ sở hạ tầng; (5) Phát triển các loại quỹ đầu tư mạo hiểm; (6) Hỗ trợ của chính phủ.

3. Mô hình liên doanh giữa quỹ đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp cơ khí được đề xuất ra sao?
Tác giả đề xuất mô hình liên doanh hỗn hợp ba thành phần gồm: Quỹ vốn mồi từ nguồn ngân sách nhà nước, các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân (trong nước hoặc công ty đầu tư mạo hiểm trực thuộc doanh nghiệp nước ngoài - CVC), và các doanh nghiệp nhỏ và vừa cơ khí chế tạo tại TP.HCM.

4. Nghiên cứu sử dụng những phương pháp thu thập dữ liệu thực tế nào?
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu pháp quy; phỏng vấn sâu 3 nhóm liên quan (12 doanh nghiệp cơ khí chế tạo, 05 quỹ đầu tư mạo hiểm, 12 đơn vị quản lý nhà nước tại 7 địa phương); tham gia hội thảo khoa học của Sở Công Thương TP.HCM; và phát phiếu khảo sát ngẫu nhiên đơn giản qua Phòng Quản lý công nghiệp - Sở Công Thương TP.HCM xử lý bằng phần mềm SPSS 20.

5. Cơ sở lý luận chính được sử dụng để phân tích chính sách và đổi mới công nghệ là gì?
Luận án vận dụng tiếp cận phân tích chính sách của Peter Knoepfel (2007), các lý thuyết cung - cầu, lý thuyết hệ thống, lý thuyết hoạch định chính sách, tiêu chí đánh giá chính sách của ILO và khái niệm đổi mới theo Cẩm nang Oslo (Oslo Manual phiên bản 4 năm 2018).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Phạm Duy Hiếu đã phân tích toàn diện cơ sở khoa học và thực trạng chính sách phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm phục vụ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo tại thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết quản lý chính sách với phân tích thực nghiệm định tính và định lượng, luận án đã xác lập một khung chính sách hoàn chỉnh gồm 6 yếu tố và mô hình liên doanh ba bên có tính khả thi. Công trình đóng góp luận cứ khoa học cho quá trình hoàn thiện thể chế đầu tư mạo hiểm, góp phần thúc đẩy năng lực đổi mới công nghệ của ngành cơ khí chế tạo trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.