Tổng quan luận án
Hoạt động của các Quỹ Đầu tư Phát triển (QĐTPT) địa phương diễn ra trong bối cảnh môi trường kinh tế và chính trị biến động liên tục, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây tổn thất vốn nhà nước và ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế. Về mặt lý luận, khái niệm và nội hàm quản trị rủi ro tại các quỹ này chưa có sự thống nhất, dẫn đến việc thiếu cơ sở khoa học vững chắc và tính khả thi thấp khi áp dụng vào thực tế. Về mặt thực tiễn, việc tổ chức quản trị rủi ro tại hệ thống quỹ địa phương ở Việt Nam còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: cơ cấu bộ máy và cơ chế vận hành chưa hoàn thiện, số lượng cán bộ chuyên trách còn thiếu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu thẩm định và giám sát. Các rủi ro phát sinh từ hoạt động cho vay, đầu tư trực tiếp và bảo lãnh tín dụng nếu không được kiểm soát có thể kéo theo tình trạng nợ xấu, lãng phí nguồn lực đầu tư công hoặc tác động tiêu cực đến mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Tại tỉnh Bắc Ninh, nhằm thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh đã ban hành Chương trình số 151/CTr-UBND. Trong đó, Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh được giao trọng trách mở rộng kênh hỗ trợ tài chính cho hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Được thành lập năm 2014, Quỹ vận hành theo khung pháp lý của Nghị định số 138/2007/NĐ-CP, Nghị định số 37/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cùng các Quyết định số 339/QĐ-UBND ngày 26/3/2012 và Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 05/02/2016 của UBND tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên, với vị thế là một thể chế tài chính non trẻ, Quỹ chưa thành lập bộ máy quản trị rủi ro độc lập, chưa xây dựng chương trình quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 31000:2011; công tác lập kế hoạch, nhận diện, đo lường, giám sát và báo cáo rủi ro còn nhiều bất cập. Xuất phát từ thực tế đó, luận án tiến sĩ kinh tế tập trung giải quyết đề tài "Quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh".
Mục đích nghiên cứu chủ yếu của luận án là đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Quỹ.
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản liên quan tới quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển.
- Phân tích thực trạng quản trị rủi ro và các yếu tố tác động đến quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2014 - 2018, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tiếp theo.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được xác định gồm:
- Câu hỏi 1: Hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh có kế thừa kinh nghiệm các hoạt động quản trị rủi ro của các định chế tài chính khác hay không?
- Câu hỏi 2: Trong quá trình hoạt động, đầu tư trực tiếp, cho vay và bảo lãnh của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh sẽ gặp những rủi ro gì?
- Câu hỏi 3: Hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi 4: Yếu tố nào ảnh hưởng tới hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh?
- Câu hỏi 5: Giải pháp nào để cải thiện hoạt động quản trị rủi ro cho Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2019-2025?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu tương ứng gồm:
- Giả thuyết 1: Hoạt động quản trị rủi ro của quỹ đầu tư phát triển về cơ bản kế thừa hoạt động quản trị rủi ro của các định chế tài chính bao gồm: xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro, nhận diện rủi ro, phân tích và đánh giá rủi ro, xử lý rủi ro, giám sát và báo cáo.
- Giả thuyết 2: Trong quá trình hoạt động, đầu tư, cho vay các quỹ đầu tư nói chung, Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh cũng gặp phải hàng loạt các rủi ro như rủi ro mất vốn, rủi ro thị trường, rủi ro về thể chế; các rủi ro này phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như từ khách hàng, từ hoạt động của quỹ, từ môi trường vĩ mô.
- Giả thuyết 3: Hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh thường gắn liền với hoạt động cho vay, đầu tư trực tiếp, bảo lãnh tín dụng; hoạt động này được nhận dạng qua các khâu xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro, nhận diện rủi ro, phân tích và đánh giá rủi ro, xử lý rủi ro, giám sát và tư vấn.
- Giả thuyết 4: Hoạt động quản trị rủi ro của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh chịu ảnh hưởng của ban lãnh đạo, cơ cấu tổ chức doanh nghiệp và thể chế vận hành, nguồn nhân lực của Quỹ và sự cố ý lừa đảo của khách hàng; trong khi đó yếu tố ít tạo ảnh hưởng hơn là ý thức và khả năng trả nợ của khách hàng, văn hóa doanh nghiệp.
- Giả thuyết 5: Xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro hợp lý, coi đây là một cấu thành căn bản của chiến lược kinh doanh của Quỹ và tổ chức thực hiện nghiêm túc sẽ giúp Quỹ hạn chế và kiểm soát được rủi ro trong quá trình xúc tiến đầu tư trực tiếp, cho vay và bảo lãnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và đánh giá dữ liệu thực trạng giai đoạn 2014 - 2018; đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2019 - 2025 và định hướng phát triển đến năm 2030.
- Phạm vi không gian: Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi nội dung: Triển khai theo phương thức kết hợp giữa các hoạt động tác nghiệp kinh doanh của Quỹ (cho vay, đầu tư trực tiếp, bảo lãnh tín dụng) với 5 chức năng quản trị rủi ro.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu trong nước được luận án phân loại thành các nhóm chủ đề:
- Nhóm nghiên cứu về quản trị rủi ro và khủng hoảng doanh nghiệp: Công trình của Đặng Đức Thành (2016), Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt và Hà Đức Sơn (2015) đã hệ thống hóa lý thuyết về khủng hoảng, rủi ro trong chiến lược, tín dụng, tài chính doanh nghiệp và vai trò của ban điều hành. Nguyễn Thị Quy (2008) phân tích quản trị rủi ro trong bối cảnh hội nhập; Lê Anh Dũng và Bùi Mạnh Hùng (2015) đi sâu vào quản trị rủi ro doanh nghiệp xây dựng.
- Nhóm nghiên cứu về quản trị rủi ro tài chính: Nguyễn Minh Kiều (2012), nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trang, Hồ Quốc Tuấn, Nguyễn Khắc Quốc Bảo, Trần Ngọc Thơ (2013) nghiên cứu sâu về các công cụ phái sinh, chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất; Nguyễn Thị Bảo Hiền nghiên cứu quản trị rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp dược.
- Nhóm nghiên cứu rủi ro tín dụng ngân hàng: Nguyễn Văn Tiến (2010), Hoàng Xuân Phong (2014), Dương Ngọc Hào (2015), Nguyễn Quang Hiện (2016), Tạ Đình Long (2016) tập trung vào nhận diện rủi ro tín dụng, kỹ thuật trích lập dự phòng, xử lý nợ xấu tại Agribank, VietinBank và MB.
- Nhóm nghiên cứu về tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý quỹ: Luận án tiến sĩ của Phan Quảng Thống (2015) xây dựng hệ tiêu chí đánh giá quản lý Quỹ Ngân sách Nhà nước (NSNN) tại Kho bạc Nhà nước.
- Nhóm nghiên cứu về định chế tài chính và quỹ chuyên biệt: Doãn Hữu Tuệ (2010), Nguyễn Đình Lưu (2008), Trần Quang Khánh (2003), Lê Minh Hồng (2000) nghiên cứu hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dân; Đề tài cấp Bộ của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đầu tư Chứng khoán (2003) khảo sát quỹ đầu tư mạo hiểm; Dương Hùng Sơn nghiên cứu quỹ đầu tư chỉ số; Nguyễn Thu Thủy (2011) nghiên cứu quỹ đầu tư chứng khoán; Phạm Phan Dũng (2008) bảo vệ luận án tiến sĩ về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của QĐTPT địa phương với 9 nhóm kiến nghị.
Tổng quan nghiên cứu quốc tế bao gồm:
- Lý thuyết nền tảng về rủi ro và quản trị định chế tài chính: Paul Hopkin (2012), John C. Hull (2012), Jonathan Reuvid (2014), Certified Investment Fund Director Institute (2015), David R., Joel Bessis (2015) phân tích các chuẩn mực Basel 1, Basel 2, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và biến động kinh tế vĩ mô; Deloitte (2018) nghiên cứu tư vấn quản trị rủi ro định chế; Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế Châu Âu - ICMA (2016) phân tích quy trình quản trị rủi ro thanh khoản tại các quỹ châu Âu thông qua cơ chế swing pricing, dual pricing và hạn mức dự phòng.
- Nghiên cứu các quỹ đầu tư chuyên biệt: Bộ Giáo dục, Nhân lực và Quan hệ Công sở Australia (2013) đánh giá Quỹ Đầu tư và Phát triển Doanh nghiệp Xã hội (SEDIF); Larry J. Prather (2012) dùng phân tích phương sai ANOVA và Thuyết Hữu dụng (Utility Theory) để so sánh mức độ rủi ro giữa quỹ tương hỗ tính phí và không tính phí trên dữ liệu 300 quỹ trong 30 năm; Andrew Clare, Miguel Corte-Real, Natasa Todorovic (2012) khảo sát quản trị rủi ro tại các quỹ cổ phần châu Âu hậu khủng hoảng 2008; Naila Iqbal (2011) ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn CAPM và hệ số beta để phân tích rủi ro hệ thống tại ngành quỹ tương hỗ Ấn Độ; David A. nghiên cứu rủi ro chính trị đối với Quỹ Đầu tư Quốc gia (SWF); Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc - FAO (2010) khảo sát rủi ro quỹ đầu tư nông nghiệp tại các nước đang phát triển; Sandy Halim, Terrie Miller, David Dupont (2010) khảo sát thực nghiệm 58 quỹ hưu trí toàn cầu với quy mô 2.000 tỷ USD; Franzen (2010), Blake (2003), Clark (2006) so sánh quản trị quỹ hưu trí tại Đức, Hà Lan, Anh và Mỹ; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (2007) thiết lập quy trình quản trị rủi ro 3 giai đoạn cho quỹ đầu cơ (tiền đầu tư, lập chương trình, giám sát); Ekaterina Alexeeva, Sally Buxton, Mark St Giles (2000) đúc kết mô hình điều hành quỹ đầu tư tập thể tại các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra:
- Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro gắn với mô hình hoạt động của một định chế tài chính công địa phương (quỹ đầu tư phát triển) chịu trách nhiệm trước Nhà nước chưa được hệ thống hóa chặt chẽ.
- Quy trình quản trị rủi ro đặc thù của quỹ đầu tư phát triển địa phương tại Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng chưa được phân định rõ ràng so với ngân hàng thương mại và doanh nghiệp thuần túy.
- Tác động tương hỗ giữa các yếu tố môi trường bên ngoài và môi trường nội bộ lên cơ chế ứng phó rủi ro của quỹ chưa được kiểm định đầy đủ bằng mô hình định lượng.
- Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện thực trạng quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh từ khi thành lập đến năm 2018 để thiết kế hệ thống giải pháp ứng dụng khả thi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án kế thừa khái niệm định chế tài chính từ Siklos (2001), Robert E. Wright và Vincenzo Quadrini (2012). Khái niệm rủi ro được định vị từ nghiên cứu gốc của Markowitz (phương sai và độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi) và Culp (2002) gắn với lý thuyết cấu trúc vốn Modigliani & Miller (M&M). Về nội hàm quản trị rủi ro, tác giả kế thừa mô hình 2 giai đoạn của Sienkiewicz (2006), mô hình 4 bước trong Chuỗi cung ứng Quản trị rủi ro (SCRM) của Giannakis và cộng sự, quan điểm của Culp (2002) và Standard & Poor (2008). Trên cơ sở đó, tác giả luận án điều chỉnh và xác lập quy trình nội hàm quản trị rủi ro gồm 5 khâu liên kết:
- Xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro: Xác lập bối cảnh môi trường bên trong, bên ngoài bằng ma trận SWOT, PEST và chuẩn mực TCVN ISO 31000:2011.
- Nhận diện rủi ro: Sử dụng các công cụ sáng tạo (Creativity Tools), mô hình hoạch định theo kịch bản (Scenario Planning), lập sơ đồ quy trình (Process Mapping), sổ đăng ký rủi ro (Risk Register), phương pháp phân tích mối nguy và khả năng vận hành (HAZOP), phân tích cách thức sinh ra sai sót, hậu quả và độ nguy kịch (FMEA).
- Phân tích và đánh giá rủi ro: Kết hợp kỹ thuật định tính và định lượng. Áp dụng ma trận rủi ro 5x5 của Heinz-Peter Berg (2010), thang đo 5 mức điểm và 3 mức điểm theo tiêu chuẩn Ba Lan Polish Standard PN-N-18002.
- Xử lý rủi ro: Thực thi 4 chiến lược theo Wirthin (2006) và Sienkiewicz (2006) gồm né tránh, giảm thiểu, chuyển nhượng (chia sẻ) và duy trì (giữ lại) rủi ro.
- Giám sát, tư vấn và báo cáo: Thực hiện kiểm soát vật lý, kiểm soát tài chính và theo dõi định kỳ các tham số rủi ro.
Ma trận rủi ro được tác giả trích dẫn từ Heinz-Peter Berg (2010) thể hiện sự kết hợp giữa xác suất và hệ quả tác động:
| Xác suất xảy ra |
Tác động không đáng kể (1) |
Tác động nhỏ (2) |
Tác động trung bình (3) |
Tác động lớn (4) |
Thảm họa / Tác động lớn (5) |
| Hiếm khi |
Thấp |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
Cao |
| Không chắc |
Thấp |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
Rất cao |
| Rất ít / Có thể |
Thấp |
Trung bình |
Cao |
Rất cao |
Rất cao |
| Rất có thể |
Trung bình |
Mức độ cao nhất |
Cao |
Cao |
Rất cao |
| Hầu như chắc chắn |
Cao |
Vừa phải / Trung bình |
Rất cao |
Mức độ cao nhất |
Mức độ cao nhất |
Thang điểm ước lượng 3 mức cấp độ rủi ro theo tiêu chuẩn Polish Standard PN-N-18002 được tóm lược:
| Khả năng / Xác suất xảy ra |
Hậu quả vừa phải |
Hậu quả trung bình |
Hậu quả rất lớn |
| Hầu như không xảy ra |
Không đáng kể (1) |
Không đáng kể (1) |
Trung bình (2) |
| Chắc chắn xảy ra |
Vừa phải (1) |
Trung bình (2) |
Cao (3) |
| Khả năng xảy ra rất cao |
Trung bình (2) |
Cao (3) |
Rất cao (3) |
Về các nhân tố ảnh hưởng, luận án đối chiếu các nghiên cứu của Kleffner và cộng sự (2003), Hoyt (2008), Deloach (2004), Grabowski và Roberts (1999), Daniel Galorath (2006), Anthony Carey (2001), Farida Hasanali (2002) và Bộ Phát triển Khu vực và Quốc gia Hoa Kỳ (2005) để hình thành khung phân tích các yếu tố tác động:
| Nhóm yếu tố chính |
Department of State and Regional, USA (2005) |
Grabowski và Roberts (1999) |
Daniel Galorath (2006) |
Anthony Carey (2001) |
Farida Hasanali (2002) |
| Lãnh đạo |
Phân bổ nguồn lực đầy đủ |
— |
Sự hỗ trợ từ quản lý cấp cao |
— |
Lãnh đạo |
| Truyền thông / Kết nối |
— |
Truyền thông / Kết nối |
— |
Xác minh các phán đoán |
Cơ sở hạ tầng thông tin |
| Văn hóa |
— |
Văn hóa tổ chức |
Văn hóa doanh nghiệp |
— |
Văn hóa |
| Cơ cấu tổ chức |
Thiết lập mục tiêu rõ ràng |
Cơ cấu chức năng |
Bộ phận của cấu trúc tổng thể |
Quản lý sự thay đổi |
Cơ cấu, vai trò và trách nhiệm |
| Đào tạo nhân lực |
Đào tạo nhân viên thích hợp |
— |
Tham gia của nhân sự liên quan |
— |
— |
| Đo lường / Đánh giá |
Hệ thống giám sát rủi ro |
Sự tín nhiệm |
Mô hình đo lường rủi ro |
Phán đoán, nhận diện, phân tích |
Vấn đề đo lường |
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp cách tiếp cận liên ngành (kinh tế, chính trị, luật pháp, lịch sử), tiếp cận từ trên xuống (cơ quan quản lý) và từ dưới lên (khách hàng vay vốn, nhận bảo lãnh).
- Phương pháp định tính: Phân tích, tổng hợp tài liệu quy phạm pháp luật và báo cáo ngành; so sánh đối chiếu số liệu lao động, quy mô cho vay, bảo lãnh của Bắc Ninh với Quỹ Thái Nguyên và Bắc Giang; kỹ thuật phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ quản lý quỹ, đại diện sở ban ngành và doanh nghiệp tiếp cận vốn.
- Phương pháp định lượng: Thiết kế bảng hỏi khảo sát (Bảng 3.1 dung lượng mẫu); thống kê mô tả trị số trung bình (Mean); kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (Bảng 4.9); kiểm định tính thích hợp của dữ liệu qua hệ số KMO và Bartlett's Test (Bảng 4.10); phân tích nhân tố khám phá EFA qua bảng tổng phương sai giải thích (Bảng 4.11) và ma trận xoay nhân tố (Bảng 4.12); phân tích hồi quy tuyến tính bội để xác định hệ số hồi quy chuẩn hóa (%) và mức độ quan trọng của các yếu tố tác động (Bảng 4.15, Bảng 4.16, Bảng 4.17).
Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản pháp quy (Nghị định 138/2007/NĐ-CP, Nghị định 37/2013/NĐ-CP, Quyết định 58/2013/QĐ-TTg, Nghị quyết 35/NQ-CP, Chương trình 151/CTr-UBND, Quyết định 339/QĐ-UBND, Quyết định 186/QĐ-UBND); báo cáo nghiệp vụ cho vay 11 dự án cụ thể; số liệu số dư bảo lãnh tín dụng năm 2018; các tài liệu tiêu chuẩn TCVN ISO 31000:2011, PN-N-18002.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra bảng hỏi tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh và các cơ quan, đơn vị liên quan trên địa bàn tỉnh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án
Chương này điểm lại 9 luận án tiến sĩ, 5 sách chuyên khảo và các đề tài cấp bộ trong nước, kết hợp 12 công trình nghiên cứu quốc tế tiêu biểu tại Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia. Tác giả phân tích các ưu điểm về cơ sở lý thuyết rủi ro, mô hình quản trị tập trung và phân tán, nhưng cũng chỉ ra điểm hạn chế là các công trình trước đây còn nặng tính định tính, thiếu mô hình lượng hóa tổn thất, đề xuất giải pháp còn mang tính vĩ mô chung chung và chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh. Từ đó, chương 1 thiết lập 5 câu hỏi và 5 giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản trị rủi ro tại các quỹ đầu tư phát triển
Chương 2 làm rõ bản chất của quỹ đầu tư phát triển với tư cách là một định chế tài chính trung gian. Tác giả phân tích các loại rủi ro điển hình trong hoạt động quỹ (rủi ro tín dụng, thanh khoản, thị trường, thể chế, chính trị, vận hành). Tác giả chuẩn hóa quy trình nội hàm quản trị rủi ro 5 bước (Sơ đồ 2.2), đưa khâu xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro lên vị trí khởi đầu then chốt; giới thiệu các công cụ kỹ thuật phân tích mối nguy HAZOP, FMEA, ma trận rủi ro 5x5, bảng ước lượng rủi ro theo tiêu chuẩn Polish Standard PN-N-18002 và biểu đồ xử lý rủi ro của Wirthin (2006). Đồng thời, chương 2 tổng hợp khung so sánh các yếu tố tác động đến quản trị rủi ro từ các nghiên cứu quốc tế (Bảng 2.4).
Chương 3: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và thiết kế quy trình nghiên cứu
Chương 3 trình bày bức tranh kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh, quá trình hình thành và phát triển của Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh từ năm 2014, mô hình tổ chức bộ máy (Sơ đồ 3.1) và các lĩnh vực nghiệp vụ cốt lõi. Tác giả xây dựng sơ đồ quy trình nghiên cứu (Sơ đồ 3.2), cụ thể hóa các giả thuyết và mô hình nghiên cứu lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng (Sơ đồ 3.4). Tác giả trình bày phương pháp chọn mẫu, xác định dung lượng mẫu điều tra khảo sát (Bảng 3.1), thiết kế bảng hỏi và quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp phục vụ cho các kiểm định thống kê.
Chương 4: Thực trạng quản trị rủi ro tại Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh
Chương 4 tập trung đánh giá thực trạng quản trị rủi ro theo 5 khâu tác nghiệp dựa trên các tài liệu thực tế và kết quả điều tra:
- Khâu xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro: Đánh giá qua Bảng 4.1 và hệ thống văn bản pháp quy tại Quỹ (Hộp 4.1).
- Khâu nhận diện rủi ro: Phân tích thực tế thông qua Hộp 4.2 và kết quả khảo sát tại Bảng 4.3; rà soát hồ sơ 11 dự án cho vay đầu tư cụ thể (Bảng 4.2).
- Khâu phân tích và đánh giá rủi ro: Trình bày qua Hộp 4.3 và Bảng 4.4, chỉ ra điểm yếu là Quỹ chưa áp dụng công cụ định lượng và ma trận đo lường bài bản.
- Khâu xử lý rủi ro: Đánh giá qua Hộp 4.4 và Bảng 4.6; phân tích thực trạng số dư bảo lãnh tín dụng năm 2018 (Bảng 4.5).
- Khâu giám sát, tư vấn và báo cáo: Trình bày qua Hộp 4.5 và Bảng 4.7.
- Kiểm định mô hình định lượng: Tác giả tính toán trị số trung bình của các biến độc lập (Bảng 4.8); kiểm định Cronbach's Alpha (Bảng 4.9); kiểm định KMO và Bartlett's Test (Bảng 4.10); tính tổng phương sai giải thích (Bảng 4.11); phân tích ma trận xoay EFA (Bảng 4.12); đưa ra mô hình điều chỉnh sau kiểm định (Bảng 4.13, Hình 4.1); phân tích tóm tắt mô hình hồi quy (Bảng 4.15), các hệ số hồi quy chuẩn hóa (%) (Bảng 4.16) và xếp hạng tầm quan trọng của các yếu tố tác động (Bảng 4.17).
Chương 5: Một số giải pháp cải thiện hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh
Trên cơ sở kết quả hồi quy và các hạn chế thực tế, chương 5 xác định mục tiêu, định hướng phát triển của Quỹ đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp tương ứng với các khâu trong quy trình quản trị rủi ro và các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu: hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản trị rủi ro chuyên trách; nâng cao năng lực ban điều hành và trình độ cán bộ nghiệp vụ; ứng dụng các công cụ định lượng (ma trận rủi ro, FMEA, phần mềm phân tích tín dụng); chuẩn hóa quy trình thẩm định cho vay 11 nhóm dự án ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ số dư và điều kiện bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; đồng thời kiến nghị UBND tỉnh Bắc Ninh và Bộ Tài chính sửa đổi, hoàn thiện cơ chế pháp lý về trích lập quỹ dự phòng rủi ro và quản lý vốn ủy thác.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án khẳng định và chuẩn hóa nội hàm của quản trị rủi ro trong quỹ đầu tư phát triển địa phương tại Việt Nam dưới góc độ một định chế tài chính vận hành theo cơ chế doanh nghiệp tài chính công, làm rõ tính giao thoa của quản trị rủi ro trong quản trị kinh doanh.
- Tác giả chia sẻ quan điểm của Robert và Bob về nhận diện nguy cơ tiềm ẩn trong các định chế tài chính, đồng thời bổ sung luận điểm: quản trị rủi ro là một quá trình ra quyết định liên tục nhằm đảm bảo mức độ an toàn cao nhất có thể và lựa chọn hệ thống giải pháp tối ưu để giảm thiểu tối đa hậu quả rủi ro.
- Luận án tái định vị quy trình nội hàm quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển địa phương gồm 5 giai đoạn, khẳng định khâu xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro giữ vị trí khởi đầu then chốt, chi phối toàn bộ các khâu nhận diện, phân tích, đánh giá, xử lý và giám sát tiếp theo.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Luận án chứng minh quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển phải được tích hợp như một bộ phận hữu cơ không thể tách rời trong chiến lược phát triển tổng thể của Quỹ.
- Thông qua sự kết hợp giữa phân tích thực trạng và kiểm định mô hình hồi quy định lượng, luận án đã lượng hóa chiều hướng và mức độ tác động của các yếu tố bên trong (ban lãnh đạo, cơ cấu tổ chức, nhân lực) và bên ngoài (khách hàng, thể chế) đến hiệu quả quản trị rủi ro.
- Hệ thống giải pháp đề xuất cho Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh có giá trị trực tiếp tháo gỡ điểm nghẽn cho 3 nghiệp vụ cho vay đầu tư, đầu tư trực tiếp và bảo lãnh tín dụng, đồng thời cung cấp mô hình tham khảo thực tiễn cho hệ thống QĐTPT địa phương trên cả nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tập trung khảo sát phạm vi không gian tại một địa bàn duy nhất là Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh; dữ liệu thực nghiệm giới hạn trong mốc thời gian từ năm 2014 đến năm 2018; đối tượng nghiên cứu khu biệt trong 3 nghiệp vụ kinh doanh truyền thống gồm cho vay đầu tư, đầu tư trực tiếp và bảo lãnh tín dụng. Các khía cạnh ủy thác quản lý nguồn vốn ngoài ngân sách, hoạt động của các quỹ con hoặc các công cụ tài chính phức tạp chưa được phân tích sâu do Quỹ chưa triển khai trong giai đoạn nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: mở rộng phạm vi khảo sát so sánh đa quỹ trên phạm vi vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hoặc toàn quốc; cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2018 khi có các nghị định mới thay thế Nghị định 138/2007/NĐ-CP và Nghị định 37/2013/NĐ-CP; đồng thời kiểm nghiệm mô hình quản trị rủi ro nâng cao khi các quỹ địa phương áp dụng hoàn chỉnh các chuẩn mực theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 31000.
Giá trị tham khảo
Nội dung luận án có giá trị tham khảo cụ thể đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống hóa về quản trị rủi ro tại định chế tài chính nhà nước địa phương; phương pháp kết hợp phân tích thực trạng với các kỹ thuật kiểm định EFA, Cronbach's Alpha và hồi quy.
- Ban điều hành và cán bộ nghiệp vụ các Quỹ Đầu tư Phát triển địa phương: Tham khảo trực tiếp quy trình quản trị rủi ro 5 bước, cách thức vận dụng ma trận rủi ro 5x5, bảng điểm đánh giá theo tiêu chuẩn PN-N-18002 và các bài học kinh nghiệm xử lý rủi ro trong cho vay dự án hạ tầng và bảo lãnh tín dụng DNNVV.
- Các cơ quan quản lý nhà nước (UBND cấp tỉnh, Bộ Tài chính): Cung cấp luận cứ thực tiễn để sửa đổi, hoàn thiện thể chế vận hành, quy chế trích lập dự phòng rủi ro và tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại các quỹ địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định nội hàm quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển gồm những giai đoạn nào?
Tác giả xác định nội hàm quản trị rủi ro gồm 5 giai đoạn liên kết chặt chẽ theo Sơ đồ 2.2: (1) Xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro; (2) Nhận diện rủi ro; (3) Phân tích và đánh giá rủi ro; (4) Xử lý rủi ro; (5) Giám sát, tư vấn và báo cáo. Trong đó, khâu xây dựng kế hoạch được xác định giữ vị trí khởi đầu và mang tính quyết định.
2. Các công cụ và kỹ thuật nào được tác giả đề xuất sử dụng trong nhận diện và đánh giá rủi ro tại Quỹ?
Trong nhận diện rủi ro, tác giả đề xuất sử dụng ma trận SWOT, PEST, các công cụ sáng tạo (Creativity Tools), mô hình kịch bản (Scenario Planning), lập sơ đồ quy trình (Process Mapping), sổ theo dõi rủi ro (Risk Register), kỹ thuật phân tích mối nguy và khả năng vận hành (HAZOP), cùng phân tích sai sót và độ nguy kịch (FMEA). Trong đánh giá rủi ro, tác giả sử dụng ma trận rủi ro 5x5 của Heinz-Peter Berg (2010) và bảng điểm đánh giá mức độ rủi ro theo tiêu chuẩn Polish Standard PN-N-18002.
3. Khung phân tích định lượng của luận án sử dụng các kỹ thuật thống kê nào để xử lý dữ liệu khảo sát?
Luận án sử dụng phần mềm thống kê để thực hiện: tính toán trị số trung bình (Mean), kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha (Bảng 4.9), kiểm định độ thích hợp mẫu KMO và kiểm định Bartlett's Test (Bảng 4.10), phân tích nhân tố khám phá EFA qua bảng tổng phương sai giải thích và ma trận xoay (Bảng 4.11, Bảng 4.12), phân tích hồi quy tuyến tính để xác định hệ số hồi quy chuẩn hóa (%) và tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng (Bảng 4.15, Bảng 4.16, Bảng 4.17).
4. Những điểm hạn chế chính trong hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2014-2018 là gì?
Quỹ chưa thành lập bộ máy quản trị rủi ro độc lập, nhân sự quản lý rủi ro chủ yếu là kiêm nhiệm; chưa áp dụng chương trình quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn TCVN ISO 31000:2011; khâu nhận diện và đo lường rủi ro chưa được lượng hóa; công tác giám sát, rà soát và chế độ báo cáo rủi ro chưa kịp thời; hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn và mang dấu ấn tổ chức tín dụng hơn là doanh nghiệp đầu tư tài chính.
5. Luận án khảo sát thực tế trên những mảng nghiệp vụ cụ thể nào của Quỹ?
Luận án tập trung đánh giá 3 mảng nghiệp vụ nòng cốt: cho vay đầu tư (thông qua khảo sát 11 dự án cụ thể tại Bảng 4.2), đầu tư trực tiếp và hoạt động bảo lãnh tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (với số liệu số dư bảo lãnh tín dụng năm 2018 tại Bảng 4.5).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quản trị rủi ro tại quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tại các định chế tài chính công địa phương, chuẩn hóa quy trình nội hàm 5 bước với trọng tâm đặt vào khâu xây dựng kế hoạch. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên chuỗi dữ liệu thực tế giai đoạn 2014 - 2018, công trình đã làm rõ thực trạng hoạt động, đo lường các yếu tố ảnh hưởng và chỉ ra những điểm nghẽn trong tổ chức bộ máy quản lý rủi ro tại Quỹ. Hệ thống giải pháp được đề xuất gắn với 3 nghiệp vụ cốt lõi (cho vay, đầu tư trực tiếp, bảo lãnh tín dụng) có giá trị ứng dụng trực tiếp cho Quỹ Đầu tư Phát triển tỉnh Bắc Ninh và cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác quản trị tại các quỹ địa phương trên phạm vi cả nước.