Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản trị rủi ro tại các quỹ đầu tư phát triển. Chương 3: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và thiết kế quy trình nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng quản trị rủi ro tại Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh.
Chương 5: Một số giải pháp cải thiện hoạt động quản trị rủi ro tại Quỹ đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh. 6 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Quản trị rủi ro đối với các Quỹ Đầu tư và Phát triển là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Ở trong nước, có nhiều công trình nghiên cứu, thảo luận khoa học xung quanh vấn đề quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro đối với Quỹ Đầu tư Phát triển nói riêng, cụ thể: 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Cho đến nay, ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề quản trị rủi ro: Hướng nghiên cứu về quản trị rủi ro và khủng hoảng, có các công trình của tác giả Đặng Đức Thành “Quản trị rủi ro” năm 2016 [21], Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn “Quản trị rủi ro và khủng hoảng” năm 2015 [27].
Các nghiên cứu này đã tập trung phân tích và làm rõ quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm rủi ro trong chiến lược kinh doanh, trong tín dụng, tài chính doanh nghiệp; xây dựng khung lý thuyết của khủng hoảng và rủi ro, mối liên hệ giữa chúng; ban lãnh đạo doanh nghiệp và vai trò trong quản trị rủi ro; các giải pháp đối phó với rủi ro mà các định chế tài chính, các doanh nghiệp trên thế giới thường sử dụng. Đây là những vấn đề lý thuyết căn bản về quản trị rủi ro. Công trình “Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Quy năm 2008 [19] và công trình “Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp xây dựng” năm 2015 của nhóm tác giả Lê Anh Dũng, Bùi Mạnh Hùng [4]. Tác giả nêu và phân tích rủi ro và quản trị rủi ro trong kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam; các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế gồm: tổ chức quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro trong kinh doanh, quản trị marketing, quản trị chi phí kinh doanh, quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trị rủi ro trong cung ứng, quản trị chất lượng trong doanh nghiệp và quản trị kinh doanh quốc tế.
Các công trình “Quản trị rủi ro tài chính” của Nguyễn Minh Kiều năm 2012 [6], “Quản trị rủi ro tài chính” của Nguyễn Thị Ngọc Trang - Hồ Quốc Tuấn - Nguyễn Khắc Quốc Bảo - Trần Ngọc Thơ năm 2013 [24], “Quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp dược Việt Nam“ của Nguyễn Thị Bảo Hiền [9]. Các tác giả đề cập rõ nét lý thuyết về rủi ro tài chính và công cụ phái sinh, nhận dạng các loại rủi ro tài chính. Các công cụ tài chính phái sinh được chỉ ra khá rõ nét gồm sản phẩm, quá trình phát triển và cấu trúc thị trường; chỉ ra các công cụ quản trị rủi ro tài chính, quản trị rủi ro tín dụng, lãi suất, tỉ 7 luan an giá. và sự phát triển của công cụ quản trị rủi ro sản phẩm; thực trạng về quản trị rủi ro tài chính ở Việt Nam cũng được phân tích khá rõ nét.
Trong đó các tác giả đặc biệt lưu ý tới chiến lược phòng ngừa rủi ro và thiết lập chương trình quản trị rủi ro tài chính. Các công trình “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của Nguyễn Văn Tiến năm 2010 [25], Hoàng Xuân Phong “Quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam” năm 2014 [18], Dương Ngọc Hào “Giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” năm 2015 [7], Nguyễn Quang Hiện “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội” năm 2016 [8], Tạ Đình Long “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” năm 2016 [12], trong đó các tác giả tập trung phân tích những rủi ro đặc thù trong kinh doanh ngân hàng, phương pháp lượng hóa, công cụ phát sinh phòng ngừa lãi suất, rủi ro phá sản và vốn chủ sở hữu; nguyên lý quản trị ngân hàng thương mại và yếu tố lãi suất trong kinh doanh ngân hàng; hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại là cơ sở để ngân hàng thương mại hoạt động ổn định và phát triển bền vững. Quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng được thể hiện trên các phương diện: công nghệ chứng khoán hóa, quản trị rủi ro thanh toán, tỉ giá hối đoái, phương thức thanh toán quốc tế tại các ngân hàng quân đội và công thương. Để quản trị rủi ro thành công, năng lực quản trị cần phải được phát huy, do đó cần có các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị.
Bên cạnh đó, các công trình đã chỉ ra kinh nghiệm về quản trị rủi ro của các Ngân hàng nước ngoài, bài học vận dụng với Việt Nam. Các giải pháp cơ bản để cải thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng như: trích lập dự phòng, hạch toán lại các khoản nợ xấu. cũng được tác giả đề xuất. Hướng nghiên cứu liên quan đến hệ thống tiêu chí đánh giá hoạt động của các quỹ, định chế tài chính, hoạt động quản trị rủi ro bao gồm: Luận án Tiến sĩ “Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý Quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước” của Phan Quảng Thống năm 2015 [22].
Luận án đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý, phân tích thực trạng của việc vận dụng các chỉ tiêu thống kê đánh giá hoạt động quản lý quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua; Đề xuất một hệ thống tiêu chí hoạt động quản lý quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước đáp ứng được các mục tiêu, yêu cầu đề ra cũng như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện công tác đánh giá hoạt động quản lý quỹ ngân sách của Kho bạc Nhà nước Việt Nam trong thời gian sau đó. Các tiêu chí này gồm: (1) Các hệ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thu Ngân sách Nhà nước của Kho bạc Nhà nước, 8 luan an (2) Các tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả và kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước, (3) Các tiêu chí đánh giá một số hoạt động khác liên quan đến hoạt động quản lý Quỹ Ngân sách của Kho bạc Nhà nước. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng hiệu quả hệ tiêu chí đánh giá như:kết hợp báo cáo thường xuyên theo định kỳ; xây dựng và hoàn thiện quy trình phân tích, đánh giá; tổ chức bộ phận phân tích, đánh giá trong từng đơn vị Kho bạc Nhà nước; và các giải pháp bổ trợ khác (tăng cường sự quan tâm của lãnh đạo Kho bạc Nhà nước các cấp, bảo đảm yêu cầu của thông tin, nâng cao nhận thức của các cán bộ công chức, viên chức Kho bạc Nhà nước, vận dụng tốt công nghệ thông tin). Công trình phân tích hoạt động quản trị rủi ro, nhất là ở phương diện định tính song chưa chỉ ra được mô hình quản trị rủi ro, đo lường rủi ro và những tổn thất mà Kho bạc phải gánh chịu khi rủi ro tín dụng xảy ra.
Hướng nghiên cứu liên quan tới hoạt động nói chung, hoạt động quản trị rủi ro nói riêng của các Quỹ, các định chế tài chính và một số kinh nghiệm từ hoạt động quản trị của các quỹ, bao gồm các công trình của Doãn Hữu Tuệ “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân Việt Nam” năm 2010 [26], Nguyễn Đình Lưu “Hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dân Việt Nam” năm 2008 [13], Trần Quang Khánh “Những giải pháp đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống Quỹ Tín dụng Nhân dan Việt Nam” năm 2003 [5] và Lê Minh Hồng “Giải pháp hoàn thiện và phát triển hệ thóng quỹ tín dụng nhân dân trong khu vực kinh tế nông thôn Việt Nam” năm 2000. Các công trình này đề cập một cách toàn diện đến quá trình xây dựng, vận hành, phát triển của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam trong đó rủi ro và quản trị rủi ro được phân tích dưới một số khía cạnh nhất định. Các tác giả đã phân tích, đúc kết kinh nghiệm quốc tế về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng Nhân dân Việt nam trong giai đoạn 1993 - 2008, đặc biệt là từ 2000 - 2008. Qua đó, khẳng định mặc dù tổ chức và hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng Nhân dân đã được cải thiện nhưng so với yêu cầu đặt ra còn rất hạn chế.
Chẳng hạn, ban kiểm soát của Quỹ tín dụng Nhân dân cơ sở chưa phát huy được tác dụng; vai trò tham gia quản trị, điều hành và kiểm soát của đại diện các Quỹ tín dụng Nhân dân còn mang nặng tính hình thức, chưa đi vào thực chất; cơ cấu tổ chức của Hiệp hội Quỹ tín dụng Nhân dân Việt Nam còn nhiều bất cập; hoạt động của các Quỹ cơ sở vẫn còn nhiều mặt yếu kém, vốn tự có còn hạn chế, chất lượng tín dụng không đồng đều; hoạt động điều hoà vốn khả dụng trong hệ thống Quỹ này chưa đáp ứng được nhu cầu; Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương chưa thực hiện tốt chức năng hỗ trợ các Quỹ tín 9 luan an dụng Nhân dân cơ sở; tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của hệ thống Quỹ tín dụng Nhân dân chưa được phát huy đúng mức; chưa thiết lập được các cơ chế phòng ngừa và các biện pháp hữu hiệu để ứng cứu kịp thời đối với các Quỹ tín dụng Nhân dân cơ sở gặp khó khăn; mối liên kết giữa các Quỹ tín dụng Nhân dân còn nặng về hình thức, chưa đi vào thực chất. Trên góc độ quản trị rủi ro thì đó là những rủi ro mà các quỹ này phải đối mặt.