CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Dự án đầu tư xây dựng công trình 1. Khái niệm Theo “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án” của Viện Nghiên cứu quản lý dự án Quốc tế (PMI) thì: “Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”. Theo Luật Đầu tư năm 2014: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Theo Luật Xây dựng 2014: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định”. Vai trò của Dự án đầu tư xây dựng công trình Ðối với Nhà nước và các định chế tài chính: Dự án đầu tư xây dựng công trình là cơ sở để thẩm định và ra quyết định đầu tư xây dựng, quyết định tài trợ vốn cho dự án xây dựng. Ðối với chủ đầu tư: - Dự án đầu tư xây dựng công trình là căn cứ quan trọng nhất để quyết định bỏ vốn đầu tư xây dựng. - Dự án đầu tư xây dựng công trình là cơ sở để xin phép được đầu tư xây dựng và cấp giấy phép hoạt động.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình là cơ sở để xin phép được nhập khẩu 9 máy móc thiết bị, xin hưởng các khoản ưu đãi trong đầutư. - Dự án đầu tư xây dựng công trình là phương tiện để tìm đối tác trong nước và nước ngoài liên doanh bỏ vốn đầu tư. - Dự án đầu tư xây dựng công trình là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn. - Dự án đầu tư xây dựng công trình là căn cứ quan trọng để xem xét giải quyết các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nước Việt Nam.
Đây cũng là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh. Đầu tư xây dựng là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các công trình, các tài sản cố định và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Đầu tư xây dựng là một hoạt động kinh tế. Đầu tư xây dựng của nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trong những năm qua nhà nước đã dành hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm cho đầu tư xây dựng. đầu tư xây dựng của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động đầu tư xây dựng của nền kinh tế ở Việt Nam. Đầu tư xây dựng của nhà nước đã tạo ra nhiều công trình, nhà máy, đường giao thông… quan trọng, đưa lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội thiết thực. Tuy nhiên, nhìn chung hiệu quả đầu tư xây dựng của nhà nước ở nước ta còn thấp thể hiện trên nhiều khía cạnh như: đầu tư sai, đầu tư khép kín, đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng.
Do đó, bên cạnh vai trò của một dự án đầu tư, Dự án đầu tư xây dựng công trình còn có ý nghĩa kinh tế xã hội tích cực và lâu dài. Đặc trưng của Dự án đầu tư xây dựng công trình Dự án đầu tư xây dựng công trình có những đặc trưng cơ bản sau đây: 10 Dự án có mục đích, kết quả xác định. Điều này thể hiện tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một dây chuyền sản xuất.
Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiệm vụ cần thực hiện. Mỗi nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án. Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn.
Dự án là một sự sáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành. Dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, Nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý Nhà nước. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như Chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà Tư vấn, Nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước.
Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của Chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. - Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Kết quả của dự án có tính khác biệt cao, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất. - Môi trường hoạt động của dự án là ‘va chạm’, có sự tương tác phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác.
- Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành thường kéo dài nên các dự án đầu tư thường có độ rủi ro cao. Quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình 1.
Khái niệm quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình Quản lý dự án là một yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của dự án. Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp quan điểm có tính hệ thống, để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc có liên quan tới dự án dưới sự 11 ràng buộc về nguồn lực có hạn. Quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Các hình thức tổ chức quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình Thời gian qua, các hình thức về quản lý đầu tư và quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình của nước ta đã từng bước được hoàn chỉnh về mặt pháp lý.
Mặt khác trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, để đảm bảo việc huy động các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là việc sử dụng các nguồn tài trợ quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), vốn vay ODA… nên hiện nay, các quy định của pháp luật nước ta nói chung đã phù hợp các hình thức quản lý dự án mà thế giới đang áp dụng. Theo đó, căn cứ vào điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, người quyết định đầu tư, chủ đầu tư xây dựng công trình quyết định lựa chọn một trong các hình thức quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình, gồm các hình thức sau: - Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án Chủ thể quản lý: chủ đầu tư Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư mà Chủ đầu tư tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng, tự tổ chức giám sát và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật) hoặc Chủ đầu tư lập ra Ban Quản lý dự án để quản lý việc thực hiện các công việc của dự án theo sự ủy quyền của Chủ đầu tư. 12 Chủ đầu tư Tự thực hiện Ban quản lý dự án Tổ chức thực Tổ chức thực Tổ chức thực hiện dự án I hiện dự án II hiện dự án III Hình 1. Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án Hình thức Chủ đầu tư tự thực hiện dự án thường áp dụng cho dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, gần với chuyên môn của Chủ đầu tư, Chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để quản lý.
Trường hợp Chủ đầu tư thành lập cơ quan quản lý dự án thì Ban quản lý dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ đầu tư về nhiệm vụ và quyền hạn được giao. Ban quản lý dự án được đồng thời quản lý nhiều dự án khi có đủ năng lực và được Chủ đầu tư cho phép, nhưng không được thành lập các Ban trực thuộc. - Hình thức Thuê tư vấn quản lý dự án (Chủ nhiệm điều hành dự án) Chủ thể quản lý: Ban Quản lý nhà thầu Hình thức Chủ nhiệm điều hành dự án: là mô hình tổ chức quản lý trong đó Chủ đầu tư giao cho Ban quản lý dự án chuyên ngành hoặc thuê một tổ chức tư vấn quản lý có đủ điều kiện, năng lực chuyên môn phù hợp với quy mô, tính chất của dự án làm Chủ nhiệm điều hành, quản lý thực hiện dự án. Chủ nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ quá trình thực hiện dự án.
Mọi quyết định của chủ đầu tư liên quan đến quá trình thực hiện dự án sẽ được triển khai thông qua tổ chức quản lý dự án. Hình thức Chủ nhiệm điều hành dự án thường áp dụng cho những dự án quy mô lớn, kỹ thuật chuyên sâu. 13 Ngoài hai hình thức trên, còn có hình thức chìa khóa trao tay, khi áp dụng hình thức này, thực chất nhiệm vụ tổ chức công tác quản lý dự án đã được chuyển giao sang chủ thể khác. Hình thức tổ chức quản lý dự án dạng chìa khoá trao tay cho phép chủ đầu tư tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà tổng thầu để thực hiện toàn bộ dự án.