CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VÈ CHAT LƯỢNG CÔNG TÁC QUAN LY DU AN DAU TU XAY DUNG CONG TRINH 1. LÝ LUẬN CHUNG VÈẺ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình Dự án đầu tư theo cách hiểu chung nhất là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thé mới. Tại khoản 2 điều 3 Luật đầu tư số 67/2014/QH13, “Dự án đâu tư là tập hợp dé xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [6] Các dự án đầu tư có những đặc điểm riêng như tính dài hạn và tính rủi ro cao.
Một dự án đầu tư thường có thời gian tồn tai dai nhiều năm, bao gồm thời gian tạo dựng nên đối tượng đầu tư và thời gian khai thác đối tượng đầu tư (thời gian vận hành dự án đầu tư). Do đó, dự án đầu tư thường được hình thành và triển khai thực hiện trong những điều kiện rủi ro bởi tính dài hạn của hoạt động đầu tư. Dự án đầu tư xây dựng công trình là những dự án đầu tư phải thông qua hoạt động xây dựng mới thực hiện được mục đích đầu tư. Theo khoản 17 điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13: “Dự án đâu tư xdy dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiễn hành hoạt động xây dựng đề xây dựng mới, sửa chữa, cải tao công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chỉ phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tr xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dung”. [5] Về phương diện lý luận, dự án đầu tư xây dựng công trình được hiểu là các dự án đầu tư mà đối tượng đầu tư là công trình xây dựng, nghĩa là dự án có liên quan đến hoạt động xây dựng cơ bản như xây dựng nhà cửa, cầu cống, đường sá,. và không phải tất cả các dự án đầu tư đều có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản. Vì thế, đối với những hoạt động đầu tư không liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản không gọi là dự án đầu tư xây dựng.
Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm dự án xây dựng mới công trình, dự án sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng. Các giai đoạn hình thành và thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình BỊ Căn cứ vào sự kế tiếp của các hoạt động trong quá trình thực hiện dự án, người ta chia quá trình đó thành những giai đoạn khác nhau. Tổng hợp các giai đoạn đó chính là chu kỳ của dự án. Nhìn một cách khái quát, chu kỳ của bất kỳ một dự án nào cũng bao gồm 3 giai đoạn sau đây: Giai đoạn chuẩn bị dự án: Đây là giai đoạn đầu tiên, có chức năng chủ yếu là chuẩn bị và thực hiện các hoạt động cần thiết để dự án ra đời, được định hình rõ về mặt nội dung và tổ chức cũng như những điều kiện khác.
Về bản chất, đây là những hoạt động kế hoạch, xác lập mục tiêu, chương trình hành động cho toàn bộ quá trình thực hiện dự án sau này. Các hoạt động trong quá trình chuẩn bị dự án có thể được lặp lại theo nhiều vòng, tùy thuộc tính chất của dự án, thủ tục và quy định của các bên tham gia quá trình chuẩn bị dự án. Giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc ra quyết định lựa chọn dự án, phân bổ các nguồn lực có thể huy động cho dự án,. qua đó, có ảnh hưởng to lớn tới khả năng thành công của dự án sau này.
Kết quả của giai đoạn chuẩn bị dự án là những văn kiện của dự án, ví dụ các bản báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi, kế hoạch và các hồ sơ khác của dự án,. Giai đoạn chuẩn bị dự án thường bắt đầu khi xuất hiện ý tưởng về dự án và kết thúc khi các văn kiện chính thức của dự án được thông qua, dự án được quyết định thực hiện. Không ít dự án được kết thúc ngay trong giai đoạn chuẩn bị dự án vì ý tưởng về dự án, khi thuyết minh, không đủ sức thuyết phục, hoặc không tìm được phương án triển khai, thực hiện ý tưởng đó. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động chủ yếu là: Nhận dạng rõ những chủ thể liên quan tới dự án; Phân tích nhu cầu, các vấn đề cần giải quyết, cơ hội giải quyết vấn đề và khai thác cơ hội triển khai dự án; Phân tích mối quan hệ giữa dự án với mục tiêu chung của tổ chức; Xác định mục tiêu của dự án; Xác định đầu ra của dự án; Xác định đầu vào của dự án; Xác định những tiêu thức quan sát, đánh giá về dự án và các công cụ định lượng các yếu tố đầu vào, đầu ra của dự án cũng như mục tiêu, mục đích của dự án; Xác định những “điểm then chốt” của dự án; Phân chia và sắp xếp các “yếu tố”, các hoạt động của dự án trong mối quan hệ tổng thể của dự án; Lên danh mục những hoạt động chủ yếu, then chốt của dự án; Xác định những “mốc” quan trọng trong quá trình thực hiện dự án; Lập những biểu, bảng, sơ đồ phản ánh các hoạt động của dự án và mối quan hệ kinh tế - kỹ thuật giữa chúng với nhau; Xây dựng sơ đồ mạng, thể hiện mối quan hệ lôgic (về mặt kỹ thuật công nghệ và về mặt thời gian) giữa các hoạt động trong dự án; Xác định “đường găng” trong sơ đồ mạng thể hiện mối quan hệ giữa các hoạt động cơ bản, có tầm quan trọng chỉ phối toàn bộ quá trình thực hiện dự án; Chuyên các thông tin từ sơ đồ mạng sang biểu đồ thể hiện tiến độ của dự án; Thiết lập sơ đồ tổ chức (trước hết là sơ đồ thể hiện quan hệ quản lý, thể hiện trách nhiệm, nhiệm vụ cũng như quyền hạn, quyền lợi của các cá nhân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào dự án).
Giai đoạn thực hiện dự án: Đây là giai đoạn biến các dự định, ý đồ của dự án do giai đoạn trước đó vạch ra thành hiện thực. Tuy về bản chất, giai đoạn này có chức năng thi hành, chấp hành chương trình đã được hoạch định trước, nhưng nó cũng có tác động ngược trở lại, thể hiện ở chỗ nó đề xuất những thay đổi trong các chương trình do giai đoạn trước đặt ra. Giai đoạn thực hiện dự án thường bao gồm các hoạt động mang nặng tính chất điều hành tác nghiệp, được thực hiện xen kẽ với các hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án. Trong thực tiễn, cũng có những dự án mà sau khi thực hiện, hầu như mục tiêu đã bị thay đổi hoàn toàn do khâu chuẩn bị thiếu chu đáo hoặc do điều kiện thực hiện dự án đã biến đổi mạnh mẽ, nhu cầu về các đầu ra của dự án không còn thích hợp nhưng không thể dừng dự án hoặc nếu dừng dự án sẽ gây những bất lợi lớn về nhiều mặt.
Giai đoạn kết thúc dự án: Đây là giai đoạn cuối cùng, khi các hoạt động nhằm biến các ý đồ của dự án thành thực tiễn đã kết thúc, sản phẩm hoặc dịch vụ do dự án cung cấp về cơ bản đã được tạo ra. Những hoạt động chủ yếu trong giai đoạn này bao gồm các hoạt động kỹ thuật, tổ chức, hành chính nhằm chấm dứt giai đoạn tạo ra sản phẩm/dịch vụ của dự án và bàn giao dự án cho chủ dự án hoặc chủ thể thụ hưởng dự án hoặc một cơ quan nào đó có chức năng tiếp nhận và khai thác dự án. Ngoài ra, các hoạt động trong giai đoạn kết thúc dự án còn bao gồm cả những hoạt động liên quan tới việc chuẩn bị cho các bước tiếp theo của dự án, chẳng hạn như khai thác kết quả của dự án, hoặc kéo dài, mở rộng dự án trong những giai đoạn tiếp theo, kể cả các nghiên cứu nhằm tiếp tục phát triển dự án, tạo ra những “dự án sau dự án” trong cùng một đơn vị/ tổ chức hoặc mở rộng sang đơn vị/ tổ chức khác. Một loại hoạt động thường được đề cập nhiều trong quản lý dự án là các hoạt động kiểm tra, giám sát, thậm chí được coi như một giai đoạn độc lập, mặc dù các hoạt động của nó được thực hiện xen kẽ trong các giai đoạn khác.
Trong giai đoạn này, các hoạt động chủ yếu được tiến hành là giám sát, kiểm tra, so sánh thực tiễn triển khai dự án với những dự kiến ban đầu, phân tích, xác định những ảnh hưởng của việc thực hiện dự án với mục tiêu của dự án, phân tích, đánh giá những quyết định, những hoạt động được thực hiện trong quá trình triển khai dự án. Nó cũng bao gồm cả những quyết định liên quan tới việc sửa đổi, điều chỉnh cả mục tiêu cũng như những biện pháp cụ thể thực hiện dự án. Các hoạt động trong giai đoạn này thường được thực hiện xen kẽ với các hoạt động thực hiện dự án (và trong một chừng mực nhất định, chúng cũng chính là các hoạt động triển khai thực hiện dự án) nên nhiều người coi 2 giai đoạn này (thực hiện dự án và giám sát, kiểm tra, đánh giá dự án) chỉ là một giai đoạn trong chu kỳ dự án. Trên thực tế, ngay trong quá trình chuẩn bị và xây dựng dự án, cũng đã diễn ra nhiều hoạt động đánh giá, kiểm tra, mặc dù mục tiêu và tính chất của chúng khác với những hoạt động có tính chất tương tự được thực hiện trong các giai đoạn sau này.
Các yêu cầu của dự án đầu tư xây dựng công trình [3] Dự án đầu tư xây dựng công trình phải tuân theo những định chế pháp luật. Dự án đầu tư xây dựng công trình phải thực hiện trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự dự án đầu tư và xây dựng, nguyên tắc này đảm bảo tính kế hoạch và hiệu quả trong công tác thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình. Phải đảm bảo đúng mục đích, kế hoạch. Tức là phải thực hiện việc đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo đúng kế hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt.