Chương 1: Cơ sở khoa học về thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp 7 Luan van Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp Hòa Phú tỉnh Đắk Lắk Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cư ng thu hút vốn đầu tư vào Khu công nghiệp Hòa Phú tỉnh Đắk Lắk 8 Luan van Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về Khu công nghiệp 1. Khái niệm Khu công nghiệp Thuật ngữ Khu công nghiệp (KCN) xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX khi các KCN được bắt đầu hình thành và phát triển nhân rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, cho đến nay trên thế giới vẫn đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm KCN, tùy điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của KCN. Các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về KCN. Theo quan niệm thông thư ng: KCN là một loại hình của khu kinh tế đặc biệt, là khu vực tính chất độc lập, trong đó có các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa, thực hiện các hoạt động dịch vụ và có chế độ quản lý riêng [8]. Ở Việt Nam, khái niệm KCN lần đầu tiên được xuất hiện tại Luật đầu tư nước ngoài năm 1986 và đến năm 2018, tại Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế giải thích định nghĩa “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
KCN gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình)” [5]. Và hiện nay, Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17/6/2020 của Quốc hội đưa ra hái niệm KCN tại Khoản 16, Điều 3 là “khu vực có ranh giới địa lý 9 Luan van xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”[12]. Như vậy, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập. Từ các khái niệm trên, theo tác giả, KCN là khu vực có diện tích được quy hoạch lâu dài, tập trung các hoạt động chế tạo công nghiệp được nhà nước cho phép thành lập, hoạt động theo quy định với đầy đủ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và các phương tiện hỗ trợ.
Vai trò của Khu công nghiệp Trong quá trình thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, KCN có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Vai trò của KCN được thể hiện trên những điểm như sau: Thứ nhất, việc hình thành các KCN là một tất yếu của sự phát triển KT - XH, nhất là đối với các nước đang phát triển thì việc hình thành các khu KCN sẽ nhanh chóng bằng việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đây là mục tiêu quan trọng nhất của KCN. Với những ưu điểm tất yếu của KCN như cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, thuận tiện trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí, vấn đề xử lý chất thải tốt là một trong những nhân tố để thu hút các nhà đầu tư.
Hơn nữa các KCN lại có quy chế quản lý và hệ thống chính sách ưu đãi tạo môi trư ng đầu tư thuận lợi, có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư hông chỉ trong nước mà còn rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó, giúp các KCN có thêm vốn đầu tư. Bên cạnh đó, việc phát triển các KCN c ng phù hợp với chiến lược của các tập đoàn, các công ty xuyên 10 Luan van quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, tranh thủ thuế ưu đãi, hai thác thị trư ng rộng lớn ở các nước phát triển. Chính vì vậy mà nguồn vốn đầu tư vào các KCN này không ngừng tăng lên.
Thứ hai, KCN là phương thức thích hợp để tiếp thu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến c ng như phương pháp quản lý hiện đại. Việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại một cách nhanh chóng và hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là mục tiêu chiến lược. Muốn phát triển kinh tế thì không thể nào b qua khoa học công nghệ. Mà so với các nước phát triển thì các nước đang phát triển có trình độ khoa học công nghệ phát triển chậm hơn nhiều.
Chính vì vậy có một giải pháp đó là thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, bằng việc hình thành các KCN là nơi để thu hút sự đầu tư này. Qua đó, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ đưa vào KCN những thiết bị kỹ thuật tiên tiến, quy trình công nghệ hiện đại để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế có đủ sức mạnh cạnh tranh trên thị trư ng. Ngoài ra, các KCN thư ng được quy hoạch theo mô hình tập hợp các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực. Do vậy, các doanh nghiệp dễ dàng hợp tác, liên kết với nhau trong việc nhập khẩu, tiếp nhận những công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới, tận dụng được những lợi thế của nước đi sau, rút ngắn được khoảng cách về khoa học kỹ thuật với các nước đi trước.
Việc các doanh nghiệp liên kết hợp tác với nhau sẽ tiết kiệm được chi phí trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển và quyền sở hữu trí tuệ. Mặt khác, từ việc các trang thiết bị hiện đại, công nghệ kỹ thuật tiên tiến thì các cán bộ quản lý, các công nhân kỹ thuật tại các KCN sẽ được đào tạo lại, đào tạo bổ sung cho phù hợp, tiếp thu được các tác phong công nghiệp, kinh nghiệm quản lý, phương pháp iểm tra chất lượng hiện đại thích hợp với cơ chế thị trư ng và đạt hiệu quả cao. 11 Luan van Thứ ba, phát triển KCN tạo công ăn việc làm và phát triển kỹ năng lao động. Xây dựng và phát triển các KCN để tạo nhiều việc làm hơn cho ngư i lao động là một trong những mục tiêu của các nước đang phát triển.
Đồng th i, tạo điều kiện cho lực lượng lao động trong nước tham gia một cách tốt nhất vào sự phân công lại lực lượng lao động xã hội. Các KCN vừa là nơi hội tụ công nghệ, kỹ thuật hiện đại và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, vừa là môi trư ng đào tạo ra những nhà quản lý có trình độ cao, có bản lĩnh và inh nghiệm; những công nhân có tay nghề cao và ý thức, tác phong công nghiệp do được tiếp cận và làm việc với dây chuyền công nghệ tiên tiến cùng kỷ luật lao động cao buộc các nhà quản lý và ngư i lao động phải rèn luyện và không ngừng học h i, nâng cao trình độ chuyên môn. Thứ tư, KCN góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các KCN là nơi dẫn đầu trong việc thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, là điều kiện dẫn dắt các ngành công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ như tài chính ngân hàng, dịch vụ thương mại, tư vấn, lao động.
Đồng th i, KCN phát triển sẽ đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu. Do đó, KCN góp phần quan trọng làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế. Đồng th i, góp phần phát triển đô thị và nông thôn, việc hình thành các KCN có vai tr cơ bản trong quá trình hình thành các hu đô thị mới, phân công lại lực lượng lao động trong xã hội, làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Thứ năm, KCN là giải pháp hướng đến phát triển bền vững.
Quy hoạch phát triển các KCN góp phần quan trọng và tăng trưởng kinh tế, đó là tiền đề cơ bản để thực hiện công bằng xã hội. Ngoài ra, xây dựng các KCN đ i h i phải giải quyết nhiều vấn đề một cách đồng bộ như: Quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN, sử dụng đất đai có hiệu quả, đào tạo và tuyển 12 Luan van dụng lao động, bảo vệ môi trư ng, tổ chức đ i sống văn hóa giáo dục. giải quyết tốt các mối quan hệ trên chính là tạo sự phát triển bền vững. Đồng th i, đây là cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước.
KCN thư ng gắn liền với các điều kiện thuận lợi cả về vị trí địa lí và các dịch vụ đi èm cùng với các chính sách ưu đãi và đơn giản. Đó là điều kiện thuận lợi thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là cầu nối tốt nhất cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trư ng thế giới. Với trình độ quản lý chuyên nghiệp, công nghệ tiên tiến của nước đi trước, các doanh nghiệp nước ngoài trong KCN có tác động lan t a đến trình độ và kỹ năng công nghiệp đối với phần còn lại của nền kinh tế nội địa.
Ban quản lý các khu công nghiệp cấp tỉnh 1. Khái niệm Mặc dù có nhiều cơ quan tham gia quản lý KCN, nhưng để đảm bảo cho các hoạt động quản lý đối với KCN phát huy hiệu lực, hiệu quả, cần phải có một cơ quan chuyên ngành chịu trách nhiệm chính, làm đầu mối, trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả quản lý. Do đó, cần phải thành lập BQL các KCN. Học tập kinh nghiệm thành công trong phát triển mô hình Khu chế xuất của các nước Đông Á, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đã cho thành lập các khu vực tập trung có cơ sở hạ tầng đặc biệt để có thể thu hút đầu tư nước ngoài bằng nhiều ưu đãi với ít thủ tục hành chính.