Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động Chương 2. Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động tại Khu công nghiệp Bắc Thăng Long (Nghiên cứu trường hợp tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn TOTO Việt Nam và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Canon Việt Nam) Chương 3. Các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động tại Khu công nghiệp Bắc Thăng Long Luan van 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG 1.
Lý thuyết vận dụng - Lý thuyết nhu cầu Khi nghiên cứu về nhu cầu của con người, không thể không nhắc tới thang nhu cầu giá trị nhất trong hệ thống lý thuyết tâm lý của nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970). Theo Maslow, “nhu cầu của xã hội và hoạt động của con người không tách rời nhau trong đời sống xã hội. Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng và nội dung được thỏa mãn trong những điều kiện và bằng phương thức cụ thể và phụ thuộc vào nhiều điều kiện, mà điển hình là điều kiện sống và nhu cầu có tính chu kỳ” [1]. Tháp nhu cầu của Abraham Maslow (Nguồn: [1]) Cấp bậc thứ nhất – những nhu cầu về “sinh lý – thể lý”: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý, bao gồm: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục làm cho con người thoải mái,… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.
Đây là cấp bậc căn bản, chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được, là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn Luan van 14 tại, do đó, nếu không đáp ứng được nhu cầu này, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện. Cấp bậc thứ hai – những nhu cầu về an ninh, an toàn: Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản (nhu cầu sinh lý), tức là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ có nhu cầu cao hơn. Đó là những nhu cầu về an toàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình…Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần của con người với mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống của mình khỏi các nguy hiểm. Cấp bậc thứ ba – những nhu cầu về xã hội: Đây là những nhu cầu về các mối quan hệ và được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái, thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại.
Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Cấp độ thứ tư – nhu cầu được tôn trọng: Theo A.Maslow, “khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng” [1]. Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. Đây là mong muốn của con người khi nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội.
Việc họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công”. Vì thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính nể. Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao. Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người.
Luan van 15 Cấp độ thứ năm – nhu cầu về sự hoàn thiện: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó. Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…); nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…); nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân và nhu cầu phát huy bản ngã. Maslow xem nhu cầu bản ngã là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông.
Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó. Như vậy vận dụng lý thuyết nhu cầu Maslow vào nghiên cứu, tác giả tiến hành tìm hiểu nhu cầu/đời sống văn hóa tinh thần của công nhân trong quá trình làm việc/lao động tại công ty TNHH TOTO Việt Nam và công ty TNHH Canon Việt Nam, KCN Bắc Thăng Long. Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm đời sống Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn định nghĩa, “Đời sống là toàn bộ những hiện tượng diễn ra ở cơ thể sinh vật trong suốt khoảng thời gian sống (nói tổng quát), là toàn bộ nói chung những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của con người, của xã hội, là toàn bộ nói chung những điều kiện sinh hoạt của con người, của xã hội, là lối sống chung của một tập thể, một xã hội.
Đời sống là những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của con người trong xã hội đời sống văn hóa, đời sống tinh thần” [40]. Trong đó, “Đời sống vật chất là những gì thuộc về nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại. Nói chung là nhu cầu thể xác của con người” và “Đời sống tinh thần là những hoạt động về đời sống nội tâm của con người như là suy nghĩ, ý chí, tình cảm của con người” [40]. Trong đề tài nghiên cứu “Đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động tại KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội”, tác giả nghiên cứu đời sống văn hóa Luan van 16 tinh thần của CNLĐ thông qua khái niệm “Đời sống tinh thần là những hoạt động về đời sống nội tâm của con người như là suy nghĩ, ý chí, tình cảm của con người”.
Với cách vận dụng này, tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng đời sống văn hóa tinh thần (thực trạng sử dựng mạng xã hội; xem tivi, đọc báo, nghe đài; tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ và tham gia các hoạt động thể dục thể thao.) của CNLĐ tại KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội, mà cụ thể là công ty TNHH TOTO Việt Nam và công ty TNHH Canon Việt Nam. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực tồn tại và phát triển gắn liền với đời sống của nhân loại, là đặc trưng riêng của con người. Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Năm 1952, Kroeber và Kluckolm đã sưu tầm được 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Định nghĩa văn hóa đầu tiên được chấp nhận rộng rãi trên thế giới là định nghĩa do nhà nhân chủng học E.B Tylor đưa ra,“Văn hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và toàn bộ những kỹ năng, thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội”. Edward Hall hiểu văn hóa là, “Một hệ thống nhằm sáng tạo, chuyển giao, lưu giữ và chế biến thông tin. Sợi chỉ xuyên suốt tất cả các nền văn hóa là truyền thông và giao tiếp”. Một định nghĩa được sử dụng khá phổ biến khác, tiệm cận gần hơn với bản chất văn hoá, do ông Frederico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với mọi biểu hiện của nó loài người sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và sự đòi hỏi của sự sinh tồn” [18]. Luan van 17 Các nhà xã hội học chia văn hóa thành hai dạng: (1) Văn hóa cá nhân. “Văn hóa cá nhân là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm tích lũy vào mỗi cá nhân, biểu hiện ở hệ thống quan niệm và cách hành xử của cá nhân ấy trong đời sống thực tiễn”. và (2) Văn hóa cộng đồng.
“Văn hóa cộng đồng là văn hóa của một nhóm xã hội, nó không phải là số cộng giản của văn hóa cá nhân – thành viên của cộng đòng xã hội ấy”. Trong hoạt động doanh nghiệp thì “văn hóa doanh nhân” thuộc dạng văn hóa cá nhân, còn “văn hóa doanh nghiệp” thuộc văn hóa cộng đồng. Như vậy, thực chất “văn hóa là hệ thống các giá trị được sản sinh ra trong xã hội nhất định, được đặc trưng bởi hình thái kinh tế xã hội nhất định, bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần”. Trong luận văn này, văn hóa được hiểu là “hệ thống các giá trị tinh thần được sản sinh ra trong xã hội nhất định, được đặc trưng bởi hình thái kinh tế xã hội nhất định”, mà cụ thể là tại công ty TNHH TOTO Việt Nam và công ty TNHH Canon Việt Nam thuộc KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội.
Khái niệm đời sống văn hóa Mặc dù thuật ngữ “đời sống văn hóa” đã xuất hiện từ mấy thập kỷ qua và được các nhà khoa học cũng như nhân dân ta sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức về “đời sống văn hóa”. Nói về vấn đề này, trước tiên phải nhắc đến tư tưởng của Hồ Chí Minh. Theo Người “Làm thế nào cho đời sống của dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn.
Đó là mục đính đời sống mới”. Như vậy, theo quan niệm của Hồ Chí Minh “văn hóa cũng như đời sống văn hóa” và“đời sống văn hóa được hiểu là đời sống tinh thần” [19].