MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, giai cấp công nhân Việt Nam không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, là lực lượng quan trọng, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công nhân Việt Nam hiện nay có 24,5 triệu người, trong đó công nhân, lao động trong các doanh nghiệp chiếm khoảng 60%, chiếm tỷ lệ khoảng 14% số dân và 27% lực lượng lao động xã hội[29;tr2]. Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện, nâng cao chất lượng về mọi mặt.
Số công nhân có tri thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến đã tăng lên. Hình thành lớp công nhân trẻ có trình độ học vấn, văn hóa, được đào tạo nghề theo chuẩn nghề nghiệp, được rèn luyện trong thực tiễn sản xuất hiện đại, phương pháp làm việc ngày càng tiên tiến. Theo số liệu điều tra, tỷ lệ lao động nhập cư hiện nay ở các khu công nghiệp (KCN) khoảng trên 50% [29; tr. Những chính sách đổi mới về kinh tế, xã hội đã đem lại nhiều kết quả, làm thay đổi cơ cấu của hầu hết các nhóm xã hội trong đó công nhân là nhóm xã hội có kỳ vọng diễn ra những thay đổi lớn trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh quá trình CNH và hội nhập kinh tế thế giới.
Theo các kết quả nghiên cứu trước đây, bản thân các Khu đô thị chưa bao giờ tự sản sinh ra được giai cấp công nhân mà giai cấp này luôn được bổ sung từ nguồn lao động di cư từ nông thôn tới. Chính vì vậy, CNH được cho là một trong những cơ hội để người nông dân di động xã hội qua quá trình chuyển đổi việc làm, chuyển đổi môi trường làm việc, thu nhập cao hơn và các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội,… Các loại hình nghề nghiệp thì ngày càng phát triển theo hướng phong phú đa dạng hơn. Sự dịch chuyển lao động giữa các lĩnh vực nghề nghiệp diễn ra mạnh mẽ theo hướng giảm dần lao động trong các nghề mang đặc trưng của xã hội truyền thống và tăng lên đáng kể lao động trong các nghề của xã hội công nghiệp hiện đại. Biến đổi về cơ Luan van 2 cấu kinh tế kéo theo biến đổi về mặt xã hội: Phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo diễn ra khá gay gắt.
Ngày nay cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ tạo ra sự khác biệt về kinh tế, cũng như khả năng tiếp cận các nhu cầu vật chất, tinh thần giữa các nhóm xã hội nghề nghiệp. Song trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển nhanh, toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra như một xu thế khách quan, cơ cấu công nhân Việt Nam đang diễn ra những thay đổi và nảy sinh nhiều vấn đề mới về số lượng, chất lượng, thành phần cơ cấu xã hội công nhân; tình hình việc làm; đời sống; phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo, di động xã hội trong công nhân. Huyện Thanh Trì nằm ở phía nam Thủ đô Hà Nội. Qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, huyện Thanh Trì hiện có 15 xã và một thị trấn, diện tích đất tự nhiên là 6.349ha, dân số hơn 270.
Nhiều khu đô thị mới ra đời như: Linh Đàm, Đại Thanh, Định Công, Pháp Vân-Tứ Hiệp, Tứ Hiệp- Ngũ Hiệp. Một số khu công nghiệp hình thành như: Khu công nghiệp Vĩnh Tuy, Ngọc Hồi; nhiều tuyến đường liên xã, liên thôn được cải tạo và nâng cấp. Các xã hoàn thành cải tạo mạng lưới điện, các công trình nước sạch, trạm y tế, nhà văn hóa. được quan tâm đầu tư, góp phần phục vụ tốt cho nhân dân.
Nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2025 xây dựng, phát triển huyện Thanh Trì trở thành quận theo hướng văn minh, giàu đẹp, Ban chấp hành Đảng bộ huyện, Ban Thường vụ Huyện ủy Thanh Trì đã chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng các chương trình, đề án nhằm thực hiện tốt 5 nhiệm vụ trọng tâm và 3 khâu đột phá trong đó có nhiệm vụ thực hiện đồng bộ các giải pháp, phát huy các nguồn lực, khai thác hiệu quả các nguồn thu bảo đảm phát triển kinh tế-xã hội, tiến tới tự cân đối thu, chi ngân sách mà nguồn lực chính dựa vào sự phát triển của Khu công nghiệp Vĩnh Tuy và Ngọc Hồi. Như vậy, trong những năm tới, sự di động xã hội trong công nhân ở các khu công nghiệp trên sẽ diễn ra nhanh chóng với nhiều khâu đột phá, cùng với đó sẽ kéo theo sự thay đổi về số lượng, chất lượng, thành phần cơ cấu xã hội công nhân; tình hình việc Luan van 3 làm; đời sống; phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo, thay đổi công việc của công nhân. Bên cạnh đó, huyện Thanh Trì cũng đang đẩy nhanh sự phục hồi và phát triển kinh tế, tiếp tục thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phục hồi, phát triển kinh tế. Triển khai các chính sách kịp thời, cụ thể, thiết thực để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19… Xây dựng và thực hiện kế hoạch duy trì hoạt động sản xuất tại các cụm công nghiệp tập trung kết hợp nhân rộng các mô hình sản xuất tiên tiến.
Đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh: thanh toán không dùng tiền mặt đạt 40%, 30% doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại điện tử trên các ứng dụng di động. Đồng thời, các đơn vị cần khai thác tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Triển khai đồng bộ các giải pháp để quản lý, khai thác tốt các nguồn thu hiện có. Tiếp tục rà soát quỹ đất để khai thác tối đa nguồn thu từ đất thông qua các hình thức đấu giá, cho thuê.Tích cực kêu gọi xã hội hóa đầu tư.
Quản lý chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Cân đối, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư xây dựng phát triển huyện thành quận, an sinh xã hội và các nhiệm vụ an ninh, quốc phòng theo phân cấp. Do vậy, tác giả nhận thấy đây là một trong những địa bàn tiêu biểu về di động xã hội trong thời gian tới, đồng thời là địa bàn phù hợp với khả năng và nguồn lực nghiên cứu của tác giả. Trước những vấn đề đặt ra đối với công nhân do công cuộc đổi mới và sự biến đổi của thế giới, tác giả lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Di động xã hội của công nhân trong doanh nghiệp tại khu công nghiệp Thanh Trì, Hà Nội”.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thực tiễn và lý luận giúp cho các cơ quan xây dựng chính sách đưa ra những giải pháp hữu ích trong việc nâng cao chất lượng và số lượng công nhân đáp ứng nhu cầu của chính người lao động và người sử dụng lao động hướng tới phát triển bền vững các khu công nghiệp trọng điểm trên địa bàn huyện Thanh Trì nói riêng và TP Hà Nội nói chung. Tổng quan tình hình nghiên cứu Phân tầng xã hội và di động xã hội trong quá trình phát triển xã hội là những chủ đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học cũng như những nhà hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn trong và ngoài nước. Sau đây là một số những kết quả nghiên cứu từ những công trình nghiên cứu, những bài viết tiêu biểu phản ánh thực tiễn này. Khảo sát thực nghiệm về hiện tượng phân tầng xã hội, di động xã hội trở nên phổ biến trong xã hội học trên thế giới, trở thành công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý xã hội.
Những cuộc khảo sát thực nghiệm tập trung vào việc nhận diện sự động năng xã hội, chẩn đoán, trị liệu và dự báo kịch bản. Những nghiên cứu thực nghiệm này được thực hiện ở cấp độ địa phương, quốc gia và toàn cầu nhằm làm rõ diện mạo phân tầng xã hội, di động xã hội với những biến số về phúc lợi và văn hóa (lối sống) của các giai tầng. Đồng thời, quá trình phát triển nghiên cứu thực nghiệm cũng là quá trình làm phong phú những chỉ báo đo lường khái niệm phân tầng xã hội, di động xã hội. Di động xã hội và phân tầng xã hội là hai hiện tượng có lịch sử lâu nhất về phương diện lý thuyết, khái niệm và các hình thức đo lường thực nghiệm khác nhau trong khoa học xã hội học.
Cả hai hiện tượng phân tầng và di động xã hội đều được xem xét trong sự kết nối mạnh mẽ với sự phân công lao động xã hội. Di động xã hội là sự dịch chuyển qua thời gian của một cá nhân từ giai cấp xã hội này sang giai cấp xã hội khác. Di động xã hội có thể xảy ra theo hướng đi lên hoặc xuống thấp hoặc liên thế hệ (Diễn ra giữa các thế hệ khi thế hệ con thăng tiến lên so với bố mẹ chúng) hoặc di động trong thế hệ (Diễn ra trong cùng một thế hệ khi một cá nhân thay đổi vị thế, vai trò của họ do thành công trong sự nghiệp). Mức độ di động xã hội diễn ra khác nhau ở mỗi xã hội.
Hiện tượng phân tầng xã hội, cơ cấu xã hội, di động xã hội thường được nghiên cứu chung trong các công trình nghiên cứu lớn cấp quốc gia. Kết quả nghiên cứu mô tả hiện tượng phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo, di Luan van 5 động xã hội như là kết quả tất yếu của quá trình phát triển xã hội ở Việt Nam; là tác động xã hội của quá trình phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, toàn cầu hóa kinh tế. Các công trình về di động cơ cấu lao động, việc làm của công nhân Trong công trình Điểm lại kinh tế - xã hội Việt Nam 2015 của Ngân hàng thế giới đã đưa ra nhận định, tình hình việc làm ở Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể trong 25 năm qua. Việc làm ở Việt Nam đã có sự chuyển dịch mạnh từ nông nghiệp gia đình trong khu vực kinh tế tập thể và doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sang lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, các doanh nghiệp hộ gia đình nông nghiệp tư nhân, và các công ty trong nước và nước ngoài thuộc sở hữu tư nhân.
Trong 1989, khoảng 71% người lao động Việt Nam làm việc chủ yếu trong nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp,. thì Quý II năm 2021 tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,5%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 62,3%, thấp hơn 12,9 điểm phần trăm so với nam (75,2%).