Giáo trình Xã hội học đại cương - Biên soạn bởi ThS Tạ Minh

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
169
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo trình Xã hội học Đại cương ThS

Giáo trình Xã hội học Đại cương do ThS. Tạ Minh biên soạn là tài liệu học thuật quan trọng dành cho sinh viên đại học tại Việt Nam. Tài liệu gồm 169 trang, được xây dựng dựa trên chương trình giáo dục đại học đại cương do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định năm 1995. Nội dung tham khảo nhiều công trình của các giáo sư, tiến sĩ hàng đầu trong lĩnh vực xã hội học Việt Nam. Giáo trình chia làm ba phần lớn. Phần một khái quát lịch sử hình thành và phát triển xã hội học. Phần hai trình bày một số chuyên ngành xã hội học cụ thể. Phần ba hướng dẫn phương pháp và kỹ thuật điều tra xã hội học. Đây là công trình học thuật có giá trị thực tiễn cao. Nội dung gắn với đời sống xã hội Việt Nam trong hơn hai mươi năm đổi mới. Tài liệu được Phó giáo sư Tiến sĩ Trần Thị Kim Xuyến, Trưởng Khoa Xã hội học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, đọc duyệt và đóng góp ý kiến. Giáo trình phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên các ngành khoa học xã hội tại Việt Nam.

1.1. Nguồn gốc và quá trình hình thành xã hội học

Xã hội học là ngành khoa học xã hội nghiên cứu về con người với tư cách là chủ thể xã hội. Thuật ngữ này xuất phát từ chữ La tinh Societas có nghĩa là xã hội và chữ Hy Lạp Logos có nghĩa là học thuyết. Thuật ngữ Xã hội học được công bố lần đầu năm 1839. Ngành khoa học này nghiên cứu cách thức ứng xử và quan hệ của con người trong các nhóm xã hội, các cộng đồng và tổ chức. So với các khoa học xã hội khác, xã hội học còn khá non trẻ. Tuy nhiên, vị trí của nó ngày càng được khẳng định trong đời sống khoa học và thực tiễn xã hội Việt Nam.

1.2. Cấu trúc nội dung giáo trình 169 trang của ThS. Tạ Minh

Giáo trình 169 trang được tổ chức theo ba phần logic và có hệ thống. Phần lịch sử giúp người đọc nắm bối cảnh ra đời của xã hội học thế giới và Việt Nam. Phần chuyên ngành cụ thể đề cập xã hội học gia đình, xã hội học giáo dục, xã hội học kinh tế và các lĩnh vực chuyên biệt khác. Phần phương pháp điều tra trang bị kỹ năng nghiên cứu thực địa. Cách trình bày rõ ràng, từng bài học gắn với thực tiễn Việt Nam, giúp sinh viên dễ tiếp thu và ứng dụng kiến thức vào thực tế nghề nghiệp sau này.

II. Đối tượng nghiên cứu và các khái niệm cốt lõi trong xã hội học đại cương

Xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học là vấn đề được tranh luận nhiều trong giới học thuật. Giáo trình ThS. Tạ Minh tiếp cận vấn đề này theo ba cấp độ rõ ràng. Cấp độ thứ nhất là chủ nghĩa duy vật lịch sử và lý luận xã hội học đại cương. Cấp độ thứ hai là lý luận xã hội học chuyên biệt. Cấp độ thứ ba là các nghiên cứu xã hội học cụ thể. Xã hội học khác với triết học xã hội ở chỗ sử dụng các khái niệm đặc thù hơn và gắn với các nhân tố đã được kiểm nghiệm. Thay vì dùng phạm trù vật chất và ý thức như triết học, xã hội học sử dụng các khái niệm cấu trúc xã hội và thiết chế xã hội. Thay vì nghiên cứu con người chung chung, xã hội học đi sâu vào nhân cách và quá trình xã hội hóa cá thể. Sự tương tác xã hội và các mối liên hệ qua lại thay thế cho khái niệm quan hệ xã hội trừu tượng. Đây là những điểm phân biệt căn bản giúp xã hội học trở thành một khoa học độc lập, có phương pháp luận riêng biệt.

2.1. Mối quan hệ giữa xã hội học và các khoa học xã hội khác

Xã hội học không tồn tại độc lập mà có quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học xã hội. Với kinh tế học, xã hội học kết hợp nghiên cứu mối quan hệ giữa khía cạnh kinh tế và phi kinh tế của đời sống xã hội, hình thành nên chuyên ngành xã hội học kinh tế. Kinh tế học giải quyết vấn đề tiền tệ, giá cả, tỷ suất lợi nhuận và ảnh hưởng của thuế đến tiêu dùng. Xã hội học mở rộng góc nhìn sang các yếu tố văn hóa, quan hệ quyền lực và chuẩn mực xã hội chi phối hành vi kinh tế. Sự giao thoa này tạo ra các nghiên cứu liên ngành có giá trị thực tiễn cao.

2.2. Vị thế và vai trò xã hội của cá nhân theo giáo trình

Giáo trình phân tích kỹ hai khái niệm then chốt là vị thế và vai trò xã hội. Vị trí xã hội là chỗ đứng, địa vị của cá nhân trong thang bậc xã hội, được xác định qua so sánh với các vị trí khác. Vị thế xã hội theo quan niệm xã hội học là một vị trí cụ thể, quyết định chỗ đứng của cá nhân và mối quan hệ với người khác trong cộng đồng. Vị thế được hình thành từ thâm niên nghề nghiệp, tài năng, đức độ và tuổi tác. Một cá nhân có thể có nhiều vị thế xã hội khác nhau tùy theo mức độ tham gia vào các tổ chức xã hội đa dạng.

III. Phương pháp điều tra và nghiên cứu xã hội học trong giáo trình ThS

Phần phương pháp nghiên cứu là một trong những điểm mạnh của giáo trình. Kỹ thuật điều tra xã hội học được trình bày có hệ thống, phù hợp với trình độ sinh viên đại học. Phương pháp luận xã hội học ngày càng trở nên thiết thực trong bối cảnh xã hội Việt Nam phát triển nhanh. Đại hội đại biểu toàn quốc lần X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4/2006) đã nhấn mạnh vai trò của khoa học xã hội đối với sự phát triển bền vững. Điều đó khẳng định giá trị thực tiễn của phương pháp luận xã hội học trong hoạch định chính sách và quản lý xã hội. Nghiên cứu xã hội học cụ thể đòi hỏi kỹ thuật thu thập dữ liệu chính xác. Điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu và quan sát tham dự là ba phương pháp cơ bản được giới thiệu. Mỗi phương pháp có ưu điểm riêng và phù hợp với từng dạng câu hỏi nghiên cứu khác nhau. Sinh viên cần nắm vững cả lý thuyết lẫn thực hành để thực hiện nghiên cứu có chất lượng.

3.1. Quá trình xã hội hóa cá nhân và các giai đoạn phát triển

Quá trình xã hội hóa được giáo trình phân chia thành ba giai đoạn rõ ràng. Giai đoạn đầu là đứa trẻ trong gia đình, nơi hình thành các giá trị và chuẩn mực căn bản. Giai đoạn hai là cá nhân trong nhà trường, nơi mở rộng quan hệ xã hội và tiếp nhận tri thức có hệ thống. Giai đoạn ba là cá nhân thực sự bước vào đời sống xã hội rộng lớn. Gia đình, nhà trường và xã hội là ba thiết chế quan trọng nhất định hình nhân cách. Trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mỗi cá nhân phải năng động, sáng tạo và không ngừng nâng cao trình độ để phát triển bền vững.

3.2. Ứng dụng phương pháp nghiên cứu trong thực tiễn Việt Nam

Giáo trình nhấn mạnh gắn kết lý luận với thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam trong hơn hai mươi năm đổi mới. Người nghiên cứu cần hiểu bối cảnh kinh tế, văn hóa và lịch sử để đặt câu hỏi nghiên cứu phù hợp. Kỹ thuật điều tra xã hội học giúp thu thập dữ liệu thực chứng, kiểm nghiệm các giả thuyết lý thuyết. Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp căn cứ khoa học cho các quyết định chính sách. Sinh viên được trang bị năng lực phân tích dữ liệu định lượng và định tính, từ đó có thể tham gia vào các dự án nghiên cứu xã hội trong thực tế công việc.

IV. Kết luận và ứng dụng giáo trình xã hội học đại cương trong học tập

Giáo trình Xã hội học Đại cương của ThS. Tạ Minh là tài liệu tham khảo có giá trị đối với sinh viên và giảng viên các trường đại học Việt Nam. Tài liệu 169 trang bao quát đầy đủ các nội dung cốt lõi của môn học nhập môn xã hội học. Từ lịch sử hình thành, đối tượng nghiên cứu, các chuyên ngành cụ thể đến phương pháp điều tra, tất cả được trình bày mạch lạc và có hệ thống. Tri thức xã hội học đại cương không chỉ phục vụ học thuật mà còn có ứng dụng thực tiễn rộng rãi. Hiểu biết về cơ cấu xã hội, thiết chế, quá trình xã hội hóa và vị thế vai trò giúp người học nhìn nhận thực tế xã hội sâu sắc hơn. Đây là nền tảng để tiếp tục nghiên cứu các chuyên ngành xã hội học sâu hơn. Giáo trình cũng phản ánh xu hướng hội nhập học thuật khi tổng hợp nhiều nguồn tài liệu trong và ngoài nước. Điều này giúp sinh viên Việt Nam tiếp cận tri thức xã hội học theo chuẩn mực quốc tế trong khi vẫn gắn với bối cảnh cụ thể của đất nước.

4.1. Giá trị học thuật của giáo trình đối với sinh viên đại học

Giáo trình đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục đại học đại cương theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nội dung được xây dựng trên cơ sở tham khảo nhiều công trình của các học giả uy tín như GS.TS. Phạm Tất Dong, PGS.TS. Nguyễn An Lịch, PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa và TS. Vũ Quang Hà. Tài liệu cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Sinh viên sau khi học có khả năng phân tích các hiện tượng xã hội bằng công cụ khái niệm khoa học thay vì nhận xét cảm tính.

4.2. Hướng dẫn khai thác và học tập hiệu quả từ giáo trình

Để khai thác hiệu quả giáo trình 169 trang, người học cần đọc tuần tự theo ba phần được sắp xếp logic. Bắt đầu từ lịch sử và lý luận, sau đó chuyển sang các chuyên ngành cụ thể, cuối cùng thực hành kỹ thuật điều tra. Ghi chú các khái niệm cốt lõi và lập sơ đồ tư duy giúp ghi nhớ lâu hơn. Kết hợp đọc giáo trình với quan sát thực tế đời sống xung quanh sẽ làm kiến thức trở nên sinh động. Tài liệu phù hợp làm nền tảng chuẩn bị cho các nghiên cứu thực địa và luận văn chuyên ngành xã hội học.

22/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠN6 GIÁO TRÌNH XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠN6 Biên soạn: ThS. TẠ MINH LỜI NÓI ĐẦU Xã hội học là một khoa học nghiên cứu về xã hội, về hệ thống các mối quan hệ xã hội của con người. Tuy còn là một ngành khoa học mới mẻ ở nước ta, nhưng trong sự tồn tại và phát triển, xã hội học đã và đang trở thành ngành khoa học có vị trí quan trọng đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những tri thức nhập môn Xã hội học và phương pháp luận của nó ngày càng trở nên thiết thực và có tác dụng không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần X (18/04/2006 - 25/04/2006) của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh đến vai trò của các ngành khoa học, trong đó có khoa học xã hội - có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội nước ta hiện nay. Trong quá trình biên soạn cuốn Xã hội học Đại cương, chúng tôi dựa vào chương trình giáo dục Đại học đại cương do Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định năm 1995. Chúng tôi cũng đã cố gắng tham khảo, chọn lọc nhiều nguồn tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước, đã dựa vào thực tiễn sinh động của đời sống xã hội ở nước ta trong hơn hai mươi năm đổi mới. Đặc biệt, chúng tôi đã tham khảo những tài liệu của Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong, Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn An Lịch, Phó giáo sư - Tiên sĩ Nguyễn Minh Hòa, Tiến sĩ Vũ Quang Hà cùng một số tài liệu của các tác giả khác. Cuốn Xã hội học Đại cương gồm ba phần: Phần 1: Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Xã hội học; Phần 2: Một số chuyên ngành Xã hội học cụ thể; Phần 3: Phương pháp và kỹ thuật điều tra Xã hội học. Nhân đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng cám ơn Phó giáo sư - Tiến sĩ Trần Thị Kim Xuyến, Trưởng Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM đã đọc và đóng góp những ý kiến quý báu, được thực hiện trong Lời giới thiệu cho lần xuất bản đầu tiên của cuốn sách này. Chúng tôi cũng xin cám ơn Tiến sĩ Trương Văn Vỹ, Thạc sĩ Lê Văn Bửu, Thạc sĩ Tăng Hữu Tân và các bạn đồng nghiệp, đã động viên khích lệ và có những ý kiến đóng góp về mặt kết cấu và nội dung của tài liệu. Mặc dù đã rất cố gắng trong khi biên soạn, cuốn sách này không tránh khỏi những thiếu sót, mong sự lượng thứ của độc giả và mong nhận được những đóng góp ý kiến từ phía độc giả và các đồng nghiệp để sách Xã hội học đại cương được hoàn thiện hơn trong lần tái bản. Tạ Minh Phần 1. XÃ HỘI HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC Bài 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH XÃ HỘI HỌC I. SỰ RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC Xã hội học là một ngành khoa học xã hội nghiên cứu về con người với tư cách là chủ thể xã hội. Nghiên cứu cách thức ứng xử và quan hệ của con người trong các nhóm xã hội, trong các cộng đồng và các tổ chức hình thành nên xã hội. Thuật ngữ Xã hội học có nguồn gốc từ chữ La tinh Societas nghĩa là xã hội và chữ Hy Lạp Logos có nghĩa là học thuyết. Xã hội học cũng có nghĩa là lý thuyết về xã hội. Đây là một ngành khoa học mới ra đời, còn rất non trẻ so với các khoa học xã hội khác. Lần đầu tiên thuật ngữ Xã hội học được công bố năm 1839 bởi Auguste Comte (1798 - 1857), một nhà triết học người Pháp, người sáng lập ra “chủ nghĩa thực chứng”. Ông cũng là người đầu tiên khởi xướng ra ngành khoa học này, và được coi là cha đẻ, là thuỷ tổ của ngành Xã hội học. Hơn một thế kỷ qua, Xã hội học đã có những bước phát triển quan trọng và nó đã thu được một số thành tựu to lớn trên thế giới, có tác dụng không nhỏ trong đời sống xã hội. Đặc biệt Xã hội học được áp dụng và phát triển mạnh ở các nước công nghiệp phát triển. Lý luận Xã hội học đã thâm nhập vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, trở nên thân thuộc với mọi tầng lớp nhân dân thông qua hệ thống giáo dục của các trường đại học và cao đẳng. Đây cũng là môn khoa học bắt buộc đối với sinh viên ở bậc đại học và cao đẳng. Sự phát triển của Xã hội học luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển, càng văn minh thì yêu cầu hiểu biết về Xã hội học càng cần thiết, vì nó luôn trang bị những tri thức tiến bộ cho sự phát triển của nhân loại, của đời sống xã hội con người cùng với mối quan hệ của nó. Cùng với các ngành khoa học khác, Xã hội học đã chỉ ra những con đường, những biện pháp, cách thức hoàn thiện, phát triển các mặt của đời sống xã hội cho phù hợp với quy luật vận động của xã hội. Ở Việt Nam, khoa học xã hội còn rất mới mẻ nhưng nó đã có những tác dụng nhất định trong việc nhận thức và ứng dụng vào quản lý xã hội, quản lý đất nước, trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hơn lúc nào hết, trong điều kiện hiện nay, muốn hoàn thành sự nghiệp đó cần phải phát huy được vai trò của nhân tố con người, trong đời sống xã hội cần phải không ngừng hoàn thiện các mối quan hệ xã hội, Marx đã cho rằng: Sự phát triển của xã hội, thể hiện ra trước hết là hiện thực cải tạo thực tiễn của con người và hoạt động của quần chúng nhân dân lao động được quy định bởi tiến trình của lịch sử. Là một môn khoa học về xã hội, môn khoa học nghiên cứu về các quan hệ xã hội, nó ra đời do yêu cầu của bản thân sự vận động xã hội, đặc biệt là trong những bối cảnh xã hội có nhiều biến động. Là môn khoa học nghiên cứu về con người, về cách ứng xử và quan hệ của con người trong các nhóm, các tổ chức xã hội, sự ra đời của Xã hội học nhằm đáp ứng ba nhu cầu căn bản sau đây: Thứ nhất, Xã hội học ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức xã hội. Con người là một thực thể xã hội, con người tồn tại và phát triển trong xã hội. Và, trong tiến trình lịch sử con người luôn muốn tìm hiểu thực chất mối quan hệ giữa người với người trong đời sống xã hội. Do vậy, xã hội được tạo ra bởi các quan hệ xã hội. Đó là mối quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn. Trong việc giải quyết những vấn đề của đời sống xã hội, cải tạo xã hội thì con người phải nhận thức được xã hội, hiểu biết được xã hội và phải có những kiến thức phong phú về một xã hội hết sức đa dạng. Xã hội học phải nhận thức và nghiên cứu xã hội mới có phương cách để biến đổi chúng nhằm mục đích phục vụ con người. Khi nhận thức một xã hội cụ thể phải dựa theo quan điểm lịch sử, cụ thể và căn cứ vào những tiêu chí văn hóa, dân cư, dân tộc và đường lối, chính sách của một quốc gia cụ thể. Đồng thời cũng cần phải phản ánh trung thực, thực trạng xã hội rất phức tạp, đa dạng và phải tính đến đặc điểm đặc thù của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc cụ thể trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Thứ hai, Xã hội học ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn. Thực tiễn cuộc sống của xã hội là hết sức phong phú. Xã hội học luôn gắn liền với sự vận hành của một xã hội cụ thể, luôn gắn liền với quá trình hoạt động thực tiễn của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xã hội học là một khoa học xuất phát từ thực tiễn và chỉ có dựa vào thực tiễn thì nó mới thực hiện được các nhu cầu khác. Thứ ba, Xã hội học ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của bản thân sự vận động của xã hội ngày càng đa dạng, phong phú và hết sức phức tạp nhằm giải quyết những vấn đề do cuộc sống của xã hội đặt ra. ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC 1. Điều kiện kinh tế xã hội Để cho Xã hội học ra đời thì nó phải hội đủ ba điều kiện và tiền đề. Đó là điều kiện kinh tế - xã hội, là điều kiện cơ bản nhất, nó phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể - những diễn biến và biến động diễn ra trong đời sống xã hội tư bản chủ nghĩa. Đó là cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ từ những năm giữa thế kỷ XVIII ở châu Âu đã thúc đẩy nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Đó là quá trình công nghiệp hóa hiện đại, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, đã thúc đẩy sự phát triển đô thị một cách nhanh chóng, từ đó đã hình thành nên các trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại và kéo theo sự hình thành các tầng lớp dân cư mới, hình thành nên các nhóm xã hội, các cộng đồng xã hội khác nhau. Cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ, đô thị được hình thành, tạo ra những sự chuyển dịch dân cư hết sức to lớn, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc và những quan hệ xã hội hết sức phức tạp. Đồng thời, do ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp, chủ nghĩa tư bản phát triển ở một trình độ nhất định đã dẫn tới sự thay đổi chung về cơ cấu xã hội, làm tan vỡ xã hội nông thôn truyền thống thời phong kiến, làm thay đổi cả lối sống dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng xã hội. Trong xã hội thì tình trạng nghèo nàn, quẫn bách, cùng cực của tầng lớp lao động, lao động bị bóc lột và lạm dụng nhất là đối với phụ nữ và trẻ em. Các khu nhà ổ chuột của dân nghèo xuất hiện, cùng với sự đồi bại của bộ máy quan liêu. Sự phát triển của đô thị đã làm đảo lộn trật tự và thói quen của cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ