Luận án tiến sĩ: Vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay (Nghiên cứu tỉnh Thanh Hóa) - Lê Thị Hợi

Nghiên cứu vai trò người cao tuổi trong gia đình hiện nay ở Thanh Hóa. Khám phá những thay đổi cấu trúc gia đình, ảnh hưởng của hiện đại hóa và các giải pháp

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

189
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò người cao tuổi trong gia đình hiện nay

Nghiên cứu vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay là chủ đề thu hút sự quan tâm lớn trong xã hội học. Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hợi (2021) tại Học viện Khoa học Xã hội đã tập trung phân tích thực trạng này ở tỉnh Thanh Hóa. Người cao tuổi giữ nhiều vị thế quan trọng trong cấu trúc gia đình truyền thống Việt Nam. Họ là người quyết định hôn nhân, quản lý kinh tế, chăm sóc con cháu và duy trì tín ngưỡng thờ cúng. Xã hội hiện đại tạo ra nhiều thay đổi trong cách nhìn nhận vai trò này. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tác động mạnh mẽ đến mối quan hệ liên thế hệ. Nghiên cứu chỉ ra rằng người cao tuổi vẫn duy trì được ảnh hưởng nhất định trong gia đình. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng có xu hướng giảm so với xã hội truyền thống. Các yếu tố kinh tế, giáo dục và văn hóa đóng vai trò quyết định trong sự thay đổi này. Địa bàn nghiên cứu tại Thanh Hóa cung cấp dữ liệu phong phú về cả khu vực thành thị và nông thôn.

1.1. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu vai trò người cao tuổi

Nghiên cứu áp dụng nhiều lý thuyết xã hội học để phân tích vai trò người cao tuổi. Lý thuyết vai trò (Role theory) giải thích vị thế và chức năng của người già trong hệ thống gia đình. Lý thuyết hiện đại hóa (Modernization theory) phân tích tác động của quá trình công nghiệp hóa đến vị thế người cao tuổi. Thuyết gỡ bỏ (Disengagement theory) đề cập đến quá trình người già giảm dần hoạt động xã hội. Thuyết hoạt động (Activity theory) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì vai trò tích cực. Các lý thuyết này tạo nền tảng vững chắc để hiểu sự biến đổi vai trò người cao tuổi trong gia đình Việt Nam hiện đại.

1.2. Địa bàn nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu

Luận án tiến sĩ thực hiện nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Thanh Hóa. Địa bàn điều tra bao gồm phường Thanh Hóa, xã Lương Sơn thuộc huyện Thường Xuân và xã Hoằng Tiến thuộc huyện Hoằng Hóa. Sự lựa chọn đa dạng địa bàn giúp phản ánh đầy đủ đặc điểm thành thị lẫn nông thôn. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng để thu thập thông tin. Phỏng vấn sâu, khảo sát phiếu hỏi và quan sát thực địa được triển khai bài bản. Nhóm đối tượng nghiên cứu bao gồm người cao tuổi, con cháu và các thành viên khác trong gia đình.

II. Phân tích thực trạng vai trò người cao tuổi trong gia đình Thanh Hóa

Thực trạng vai trò của người cao tuổi trong gia đình ở Thanh Hóa thể hiện nhiều nét phức tạp. Trong đời sống hôn nhân, người cao tuổi truyền thống là người quyết định chính việc chọn bạn đời cho con cháu. Ngày nay, xu hướng con cái tự quyết định có hỏi ý kiến cha mẹ ngày càng phổ biến. Quá trình chuyển đổi quyền lực hôn nhân diễn ra rõ rệt ở cả thành thị và nông thôn. Về hoạt động sản xuất kinh doanh, người cao tuổi vẫn đóng góp kinh nghiệm và vốn liếng cho con cháu. Họ truyền đạt kiến thức tích lũy qua nhiều năm làm việc. Vai trò chăm sóc gia đình của người cao tuổi đặc biệt quan trọng trong việc trông nom cháu nhỏ. Họ hỗ trợ con cái bận rộn với công việc bên ngoài. Hoạt động giáo dục con cháu cũng được người cao tuổi quan tâm sâu sắc. Họ dạy dỗ về đạo đức, lối sống và giá trị truyền thống dân tộc. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là lĩnh vực người cao tuổi duy trì vai trò mạnh mẽ nhất.

2.1. Vai trò người cao tuổi trong hôn nhân và chăm sóc con cháu

Vai trò của người cao tuổi trong đời sống hôn nhân trải qua quá trình chuyển đổi đáng kể. Trước đây, cha mẹ có quyền quyết định gần như tuyệt đối việc kết hôn của con cái. Hiện nay, mô hình con cái quyết định có hỏi ý kiến cha mẹ chiếm ưu thế. Sự thay đổi này phản ánh xu hướng cá nhân hóa trong xã hội hiện đại. Về chăm sóc con cháu, người cao tuổi đảm nhận vai trò trông nom và đưa đón trẻ đi học. Họ cũng truyền đạt kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe cho thế hệ sau. Nghiên cứu tại Thanh Hóa cho thấy vai trò này vẫn được duy trì tích cực ở cả khu vực nông thôn lẫn thành thị.

2.2. Vai trò trong sản xuất kinh doanh và tín ngưỡng thờ cúng

Người cao tuổi tích lũy nhiều kinh nghiệm sống và kiến thức làm ăn quý báu. Họ tham gia quyết định các vấn đề sản xuất như đầu tư vốn, mua bán phương tiện và mở rộng quy mô. Uy tín của người cao tuổi trong gia đình xuất phát từ sự hiểu biết sâu rộng về cuộc sống. Trong xã hội truyền thống, quyền lực người già được tuyệt đối hóa nhờ kinh nghiệm và tuổi tác. Vai trò tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là lĩnh vực người cao tuổi duy trì ảnh hưởng mạnh nhất. Họ giáo dục con cháu về giá trị truyền thống, phong tục tập quán của gia đình và dòng họ. Nghiên cứu tại Thanh Hóa xác nhận vai trò này ít bị ảnh hưởng bởi quá trình hiện đại hóa.

III. Giải pháp phát huy vai trò người cao tuổi trong gia đình hiện đại

Phát huy vai trò người cao tuổi trong gia đình hiện đại đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Chính sách pháp luật về người cao tuổi cần được hoàn thiện và thực thi hiệu quả. Luật Người cao tuổi tạo hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi và phát huy năng lực của họ. Giáo dục truyền thống gia đình cần được duy trì song song với tiếp thu giá trị hiện đại. Con cháu cần được hướng dẫn tôn trọng và học hỏi kinh nghiệm từ ông bà cha mẹ. Cộng đồng xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường hỗ trợ người cao tuổi. Các chương trình chăm sóc sức khỏe và tinh thần giúp người cao tuổi duy trì vai trò tích cực. Mô hình gia đình nhiều thế hệ chung sống cần được khuyến khích phù hợp với điều kiện thực tế. Địa phương như Thanh Hóa có thể xây dựng các mô hình câu lạc bộ người cao tuổi. Hoạt động cộng đồng giúp người cao tuổi mở rộng giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm sống. Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại là chìa khóa để cân bằng vai trò người cao tuổi.

3.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ người cao tuổi trong gia đình

Chính sách hỗ trợ người cao tuổi trong gia đình cần được xây dựng trên nhiều phương diện. Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng. Chương trình bảo hiểm y tế toàn dân giúp người già tiếp cận dịch vụ y tế dễ dàng hơn. Các khoản trợ cấp xã hội cần được điều chỉnh phù hợp với mức sống thực tế. Chính quyền địa phương Thanh Hóa nên xây dựng mô hình hỗ trợ cụ thể cho từng nhóm đối tượng. Gia đình có người cao tuổi cần được hướng kiến thức chăm sóc và phát huy vai trò của họ. Sự phối hợp giữa gia đình, cộng đồng và nhà nước tạo nền tảng vững chắc cho cuộc sống người cao tuổi.

3.2. Nâng cao nhận thức về giá trị kinh nghiệm người cao tuổi

Nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị kinh nghiệm người cao tuổi là giải pháp then chốt. Giáo dục truyền thống kính trọng người già cần được đưa vào chương trình đào tạo từ nhỏ. Phương tiện truyền thông đại chúng có thể lan tỏa thông điệp tích cực về vai trò người cao tuổi. Các mô hình truyền dạy nghề thủ công, y học cổ truyền từ người già sang thế hệ trẻ cần được phục hồi. Doanh nghiệp và hợp tác xã có thể mời người cao tuổi làm cố vấn kinh nghiệm. Gia đình nên tạo điều kiện để ông bà tham gia chăm sóc và giáo dục con cháu. Việc ghi nhận đóng góp của người cao tuổi giúp họ cảm thấy có giá trị và được tôn trọng trong xã hội hiện đại.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu vai trò người cao tuổi Thanh Hóa

Nghiên cứu vai trò người cao tuổi trong gia đình hiện nay tại Thanh Hóa mang lại nhiều kết quả quan trọng. Người cao tuổi vẫn duy trì vai trò đáng kể trong nhiều lĩnh vực của đời sống gia đình. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng có sự khác biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn. Các vai trò truyền thống đang dần được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại. Nghiên cứu xác nhận vai trò tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là lĩnh vực ít bị thay đổi nhất. Vai trò trong hôn nhân và sản xuất kinh doanh có sự chuyển biến rõ rệt theo hướng cá nhân hóa. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các tỉnh thành khác có đặc điểm tương đồng. Mô hình phân tích của luận án tiến sĩ này cung cấp khung tham chiếu hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo. Chính sách phát triển xã hội cần tính đến vai trò đặc biệt của người cao tuổi trong cấu trúc gia đình. Sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại là yếu tố then chốt để gia đình Việt Nam phát triển bền vững.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp quan trọng vào hệ thống lý thuyết về vai trò người cao tuổi trong xã hội học. Kết quả kiểm nghiệm và phát triển các lý thuyết vai trò, hiện đại hóa trong bối cảnh Việt Nam. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu đáng tin cậy cho việc hoạch định chính sách. Các nhà quản lý xã hội có thể tham khảo để xây dựng chương trình hỗ trợ người cao tuổi hiệu quả. Gia đình và cộng đồng hiểu rõ hơn về cách phát huy vai trò tích cực của người già. Mô hình nghiên cứu tại Thanh Hóa có thể nhân rộng cho các địa phương khác trên cả nước.

4.2. Định hướng nghiên cứu phát triển trong tương lai

Nghiên cứu mở ra nhiều hướng phát triển mới cho lĩnh vực xã hội học người cao tuổi. Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng phạm vi địa bàn để so sánh giữa các vùng miền. Khảo sát dài hạn theo thời gian giúp theo dõi sự biến đổi vai trò người cao tuổi qua các giai đoạn. Nghiên cứu định lượng quy mô lớn cần được thực hiện để kiểm định tính tổng quát của kết quả. Tác động của công nghệ số đến vai trò người cao tuổi trong gia đình là hướng nghiên cứu tiềm năng. So sánh quốc tế về vai trò người già giúp rút ra bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay nghiên cứu trường hợp tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những vấn đề nội dung, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về NCT liên quan đến đề tài 1. Những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu Quan điểm về vai trò của NCT trong gia đình và xã hội: Trên thế giới, ở nhiều nước có tỷ lệ NCT cao như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc…Chính phủ đã có những động thái về mặt chính sách đối với NCT. Sau khi về hưu NCT có nhu cầu lao động, có cơ hội được khuyến khích tiếp tục được cống hiến trí tuệ, kinh nghiệm, khẳng định vai trò của mình đối với xã hội và giảm đến mức tối thiểu sự phụ thuộc vào gia đình.

Ở Singapore, Chính phủ cho rằng, NCT về hưu của nước này có thể đóng góp cho nguồn nhân lực và cộng đồng chừng nào họ còn khả năng làm việc, và để khuyến khích NCT tiếp tục làm việc, Chính phủ Singapore có kế hoạch cập nhật luật lệ và cơ cấu tuyển dụng, theo đó yêu cầu công ty đề nghị tuyển dụng lại những nhân viên nào đến tuổi về hưu để họ làm việc thêm 3 năm. Ngoài ra, Singapore cũng sẽ có các biện pháp để thu hút nữ cao tuổi trở lại làm việc và tiến hành nhiều hoạt động để công dân cao tuổi sống tích cực hơn [2, tr. ỞNhật Bản đã thông qua bộ luật ổn định về việc làm cho NCT vào năm 2013. Luật này yêu cầu mọi doanh nghiệp áp dụng tuổi về hưu với tuổi không trẻ hơn 60, đồng thời phải thực hiện một trong ba biện pháp: (1) xây dựng chế độ tuổi về hưu là 65; (2) có biện pháp duy trì việc làm đền 65 tuổi và (3) bãi bỏ chế độ về hưu.

Bên cạnh đó, chính phủ trợ cấp cho các doanh nghiệp tuyển dụng NCT thông qua các trung tâm nhà nước về ổn định việc làm, cũng như cho những doanh nghiệp có chế độ bảo đảm việc làm cho nhân viên tuổi 65. Đến nay, phần lớn doanh nghiệp Nhật Bản đều đã xây dựng chế độ làm việc đến 65 tuổi. Việc khuyến khích NCT tham gia lao động ngoài góp phần giải quyết những vấn đề khó khăn với sự phát triển kinh tế, chế độ an sinh xã hội, còn có mặt tích cực tạo ra sự hài lòng và khẳng định bản thân của NCT [20]. Có thể thấy, NCT ở Nhật Bản rất chủ động trong cuộc sống của họ khi về già, không phụ thuộc hoàn toàn vào con cái, với họ nghỉ hưu không có nghĩa là ngừng 13 hoạt động mà vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động để tự chủ được cuộc sống và nâng cao sức khỏe và tinh thần.

Theo tác giả, Simon De Beauvoir vai trò của NCT có sự thay đổi trong quá trình phát triển của xã hội. Đây là kết quả từ một nghiên cứu “Tuổi già” của Simon De Beauvoir (1998) bà cho rằng, ở xã hội nguyên thủy người già được ca ngợi theo lối thần bí trong các câu chuyện và họ được miêu tả như những người có tài nghệ ma thuật, những nhà sáng chế, người trị bệnh.Ở xã hội phương Tây thời kỳ đầu công nguyên, quyền sở hữu được thể chế, người già với tư cách là những người giầu có, có tiếng nói trọng lượng hơn trong đời sống công cộng và đời sống riêng [70, tr. Công nghiệp hóa đi kèm theo với sự đánh mất quyền hạn và uy tín xã hội ở người lớn tuổi, bởi lẽ nhiều người rời bỏ ruộng vườn cùng gia đình ra thành thị tìm việc mưu sinh…Hiểu biết của người lớn tuổi thường bị hạ thấp tầm quan trọng và không liên quan đến thế hệ trẻ. Truyền thống tỏ ra kém quan trọng trong các xã hội công nghiệp và vì thế người lớn tuổi không còn được kính trọng.

Nếu người lớn tuổi có địa vị xã hội khá cao trong xã hội nông nghiệp, thì trong xã hội công nghiệp, họ có địa vị xã hội thấp hơn nhiều. Vấn đề thường thấy ở tuổi già thời kỳ này là sự cô lập khỏi xã hội do đã nghỉ hưu, sức khỏe yếu, bệnh tật [70, tr. Trong thời kỳ hiện đại, chức năng và vai trò xã hội của người già, nhất là những người đàn ông cao tuổi đã có sự thay thay đổi. Người già trong các xã hội phát triển đến giai đoạn nhất định nào đó, cũng đối mặt với những thay đổi về vai trò.

Trong thế giới hiện đại, người già được coi là con người của quá khứ, và nhất là trong bối cảnh kinh tế chuyển đổi thì người già không còn được xem như một lực lượng lao động nữa, mà trong hệ thống hiện hành này họ chỉ có thể tham gia như là người tiêu dùng. Tuy nhiên ở nhiều xã hội người già vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong gia đình, cộng đồng. Mặt khác, sự thay thế và chuyển giao về mặt địa vị và vai trò xã hội từ NCT sang những người trẻ tuổi hơn qua thời gian nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển liên tục của xã hội, một số tác giả như Elaine Cumming và William Henry (1961) đại diện của thuyết gỡ bỏ (disengagement theory) đã giải thích tác động của sự lão hóa trong vòng đời của một con người, dựa trên thực tế sinh học là có sự sinh 14 ra, lớn lên, già yếu và chết. Vì vậy, khi tuổi già đến họ buộc phải từ bỏ phần lớn vai trò xã hội của mình.

Gia đình và xã hội cần giúp đỡ người già rút dần khỏi các vai trò xã hội quen thuộc, và không nhìn nhận họ như người phụ thuộc hoặc gánh nặng cho gia đình và xã hội, quan điểm này ngược lại với của lý thuyết hoạt động, vốn đề cao nhu cầu hoạt động của người già [70, tr. Ở Việt Nam, mặc dù chúng ta đã bước vào giai đoạn già hóa về dân số năm 2011 nhưng dân số nước ta vẫn đang nằm trong vùng dân số “vàng” nên những chiến lược về mặt chính sách đối với lao động là NCT chưa có nhiều điểm mới mà tập trung vào phát triển hệ thống an sinh và phúc lợi đối với NCT. Những gợi ý nghiên cứu về người già rút ra từ nghiên cứu “Hôn nhân và gia đình truyền thống ở đồng bằng sông Hồng: Ý nghĩa đối với nghiên cứu người già”của tác giả Khuất Thu Hồng (1999) cho rằng, nghiên cứu về vai trò của người già được thể hiện qua 2 vai trò quan trọng trong gia đình. Thứ nhất, NCT đảm nhận vai trò trong việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ như: chăm sóc vật chất (bế ẵm, săn sóc, tình cảm, hỗ trợ về vật chất), vai trò người già trong quá trình xã hội hóa của trẻ em trong gia đình và người già với các hoạt động xã hội có ý nghĩa giáo dục thế hệ trẻ.

Thứ hai, NCT giữ vai trò là người duy trì và bảo tồn văn hóa truyền thống như các chứng nhân lịch sử và người trung gian truyền đạt các giá trị văn hóa tinh thần của một dân tộc gồm: duy trì bảo tồn và truyền đạt lai các kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất, sinh hoạt…, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam: lễ hội, thuần phong mĩ tục và là nhân chứng cung cấp những tư liệu quý giá về lịch sử dân tộc [24, tr. Cũng trong khuôn khổ nghiên cứu Người về hưu tại Hà Nội những năm 80, tác giả Nguyễn Hữu Minh (1999) chỉ ra, người già về hưu trong gia đình đảm nhận vai trò chủ yếu là nuôi nấng con cái và tổ chức đời sống cho gia đình…Bên cạnh việc đóng góp đáng kể vào kinh tế gia đình, người về hưu còn tham gia tích cực vào các công việc khác trong gia đình và đặc biệt là nuôi dạy các cháu [46]. Nhìn nhận dưới góc độ nghiên cứu về gia đình sau đổi mới, tác giả Lê Ngọc Văn trong cuốn “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”(2011) cho rằng, vai trò 15 của NCT trong gia đình là những vai trò được xác lập như: tạo thu nhập, cấp vốn, quyết định, chia sẻ kinh nghiệm, dạy dỗ con cháu, chăm nom cháu nhỏ [75, tr. Ở đời sống kinh tế, người già tham gia các hoạt động lao động- sản xuất gồm các công việc nhà, các hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia quyết định các công việc quan trọng và trợ giúp vật chất cho con cái.

Trong đời sống văn hóa người già giữ các vai trò giáo dục con cháu các giá trị văn hóa gia đình như: giáo dục nề nếp gia phong, duy trì nề nếp sinh hoạt trong gia đình, giải quyết mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình, giáo dục con cháu về cách làm ăn [34]. Vai trò của NCT trong đời sống hôn nhân của con cháu từ một vài góc nhìn nghiên cứu xã hội học: Trong xã hội Việt Nam truyền thống, hôn nhân và sinh con đẻ cái là hai việc quan trọng của các cặp vợ chồng và dòng họ, nó liên quan đến yếu tố môn đăng hộ đối và yếu tố duy trì nòi giống. Cha mẹ là người quyết định hôn nhân của con cái và là những người chủ yếu, thường là duy nhất lựa chọn đối tượng kết hôn. Trong cuốn Gia đình truyền thống một số tư liệu nghiên cứu Xã hội học, tác giả Khuất Thu Hồng cho rằng, hôn nhân truyền thống là do cha mẹ quyết định.

Ở cả nông thôn và đô thị, trong đại bộ phận các trường hợp, cha mẹ chủ động tiến hành việc lựa chọn và quyết định, con cái thường chấp nhận một cách thụ động, đôi khi còn bị ép buộc [24, tr. Điều này cũng thể hiện ở việc, cha mẹ là người lựa chọn con dâu, con rể. Tiêu chuẩn người bạn đời ở gia đình truyền thống Nho giáo thường bị quy định bởi kiểu gia đình vì chúng phản ánh hệ giá trị và chuẩn mực của gia đình đó.Nghĩa là cha mẹ lựa chọn con dâu, con rể dựa trên nhu cầu của gia đình mà không dựa trên sở thích cá nhân của con cái. Việc hôn nhân được coi là việc giữa hai gia đình, tuyệt nhiên không phải là việc cá nhân.

Một số tiêu chuẩn về gia đình chung cho cả thành phố và nông thôn trong chọn con dâu, con rể ở gia đình theo Nho hoặc hướng Nho [24, tr. 16 Con dâu Con rể 1. Môn đăng hộ đối, có thể thấp 1. Môn đăng hộ đối, phải cao hơn hơn nhà trai một chút.

hoặc bằng nhà gái. Tuổi tác bố mẹ tương đương. Tuổi tác bố mẹ tương đương. Gia đình nề nếp, đạo đức, 3.

Gia đình nề nếp, đạo đức, không có bệnh di truyền. không có bệnh di truyền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ