Luận án tiến sĩ xã hội học: Vai trò người cao tuổi trong gia đình - Nghiên cứu tại Thanh Hóa (2021)

Khám phá vai trò quan trọng của người cao tuổi trong gia đình hiện nay tại Thanh Hóa. Tìm hiểu những đóng góp và giá trị mà họ mang lại cho các thế hệ.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

188
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay

Người cao tuổi (NCT) là những người từ 60 tuổi trở lên theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trong gia đình hiện đại, vai trò của NCT trải qua nhiều biến đổi đáng kể so với xã hội truyền thống. Xã hội học xác định vai trò là tập hợp các kỳ vọng, quyền lợi và trách nhiệm gắn với một vị thế xã hội cụ thể. NCT giữ nhiều vị thế đồng thời: ông bà, cha mẹ, người cố vấn, người giữ gìn truyền thống văn hóa. Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hợi (2021) nghiên cứu trường hợp tỉnh Thanh Hóa đã chỉ ra rằng vai trò của NCT trong gia đình chịu ảnh hưởng của quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa và biến đổi cấu trúc gia đình. Nghiên cứu áp dụng nhiều lý thuyết xã hội học như lý thuyết vai trò, lý thuyết hiện đại hóa, thuyết gỡ bỏ và thuyết hoạt động. Các lý thuyết này cung cấp góc nhìn đa chiều về vị thế và vai trò của NCT trong hệ thống gia đình. Từ đó, nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp phát huy vai trò tích cực của NCT trong gia đình hiện nay.

1.1. Khái niệm người cao tuổi và gia đình hiện đại ở Việt Nam

Theo Luật Người cao tuổi năm 2009, NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Gia đình hiện đại khác biệt cơ bản so với gia đình truyền thống về cấu trúc, quy mô và chức năng. Gia đình truyền thống thường là gia đình nhiều thế hệ, sống chung dưới một mái nhà, với quyền lực tập trung vào người lớn tuổi nhất. Gia đình hiện đại có xu hướng hạt nhân hóa, quy mô nhỏ hơn, con cái độc lập sớm hơn. Sự chuyển đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế và vai trò của NCT trong gia đình. Nghiên cứu tại Thanh Hóa cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa khu vực nông thôn và thành thị trong cách thức gia đình tổ chức và vai trò của NCT được thực hiện.

1.2. Cơ sở lý luận về vai trò người cao tuổi trong gia đình

Cơ sở lý luận về vai trò người cao tuổi trong gia đình dựa trên nhiều lý thuyết xã hội học quan trọng. Lý thuyết vai trò giải thích NCT thông qua hệ thống vị thế, kỳ vọng và hành xử chuẩn mực. Theo lý thuyết này, mỗi cá nhân giữ nhiều vị thế khác nhau, mỗi vị thế chứa đựng một vai trò riêng với nhóm đối tác và kỳ vọng tương ứng. Lý thuyết hiện đại hóa cho rằng quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm suy giảm vị thế của NCT trong gia đình và xã hội. Thuyết gỡ bỏ đề xuất NCT tự rút lui khỏi các vai trò xã hội. Ngược lại, thuyết hoạt động nhấn mạnh NCT cần duy trì hoạt động và tham gia xã hội để có cuộc sống tích cực.

II. Phân tích thực trạng vai trò người cao tuổi trong gia đình hiện đại

Thực trạng vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay thể hiện rõ qua nhiều chiều cạnh khác nhau. NCT đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và truyền đạt các giá trị văn hóa, phong tục tập quán từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ là kho tàng kinh nghiệm sống, là người giữ lửa truyền thống gia đình. Tuy nhiên, quá trình hiện đại hóa đã tạo ra nhiều thách thức cho vai trò này. Cấu trúc gia đình thay đổi từ nhiều thế hệ sang gia đình hạt nhân. Con cái trưởng thành có điều kiện kinh tế, độc lập hơn trong quyết định. Kiến thức và kinh nghiệm truyền thống của NCT đôi khi không còn phù hợp với nhịp sống hiện đại. Nghiên cứu tại Thanh Hóa ghi nhận sự khác biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị. Ở nông thôn, NCT vẫn giữ vai trò cố vấn và ra quyết định quan trọng. Ở thành thị, vai trò này bị thu hẹp đáng kể do áp lực công việc và lối sống đô thị.

2.1. Vai trò người cao tuổi trong xã hội truyền thống Việt Nam

Vai trò của người cao tuổi trong xã hội truyền thống Việt Nam rất được đề cao. NCT được coi là trụ cột tinh thần của gia đình, người có quyền lực và uy tín cao nhất. Kinh nghiệm sống tích lũy qua nhiều năm được xem là nguồn kiến thức quý báu. NCT thường là người ra quyết định cuối cùng trong các vấn đề quan trọng của gia đình. Họ đảm nhận vai trò dạy dỗ con cháu, truyền đạt đạo đức, lễ nghi và phong tục. Trong gia đình truyền thống nhiều thế hệ, NCT được kính trọng bởi tất cả thành viên. Quyền lực của NCT được tuyệt đối hóa nhờ kinh nghiệm, tuổi tác và tài sản tích lũy. Truyền thống thờ cúng tổ tiên cũng củng cố vai trò của NCT như người kết nối quá khứ và hiện tại.

2.2. Sự thay đổi vai trò người cao tuổi trong gia đình hiện đại

Sự thay đổi vai trò người cao tuổi trong gia đình hiện đại là kết quả của nhiều yếu tố xã hội. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tạo ra khoảng cách thế hệ lớn hơn bao giờ hết. Con cái tiếp cận kiến thức mới, công nghệ hiện đại và lối sống phương Tây. Kiến thức và kinh nghiệm truyền thống của NCT dần mất đi vị thế độc quyền. Cấu trúc gia đình thu nhỏ lại, con cái ra ở riêng sớm hơn. Áp lực kinh tế khiến cả hai vợ chồng đều đi làm, giảm thời gian chăm sóc NCT. NCT từ vị trí người ra quyết định trở thành người được chăm sóc. Tuy nhiên, nhiều NCT vẫn duy trì vai trò cố vấn tinh thần, giữ gìn truyền thống văn hóa trong gia đình.

III. Giải pháp phát huy vai trò của người cao tuổi trong gia đình

Phát huy vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay đòi hỏi sự kết hợp giữa nhiều giải pháp. Trước hết, cần thay đổi nhận thức xã hội về NCT. NCT không phải là gánh nặng mà là nguồn lực quý báu cho gia đình và xã hội. Gia đình cần tạo môi trường để NCT phát huy kinh nghiệm và trí tuệ. Các hoạt động gia đình nên có sự tham gia tích cực của NCT. Nhà nước cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ NCT, đảm bảo an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe. Giáo dục truyền thống gia đình cho thế hệ trẻ là giải pháp quan trọng. Cộng đồng cần xây dựng các câu lạc bộ, nhóm hoạt động cho NCT. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp NCT kết nối với con cháu và xã hội. Nghiên cứu tại Thanh Hóa chỉ ra rằng những gia đình duy trì được sự gắn kết đa thế hệ thường có NCT phát huy vai trò tích cực hơn.

3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò người cao tuổi trong gia đình

Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò người cao tuổi trong gia đình rất đa dạng. Yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng: NCT có thu nhập ổn định thường có vị thế cao hơn trong gia đình. Trình độ học vấn của NCT cũng ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với xã hội hiện đại. Sức khỏe là yếu tố quyết định: NCT khỏe mạnh có thể tham gia tích cực vào đời sống gia đình. Cấu trúc gia đình ảnh hưởng trực tiếp: gia đình nhiều thế hệ tạo điều kiện cho NCT phát huy vai trò hơn gia đình hạt nhân. Môi trường sống cũng có tác động: nông thôn hay thành thị tạo ra những bối cảnh khác nhau cho vai trò của NCT.

3.2. Phương pháp nghiên cứu vai trò người cao tuổi trong gia đình

Phương pháp nghiên cứu vai trò người cao tuổi trong gia đình đòi hỏi cách tiếp cận đa chiều. Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hợi sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Khảo sát bằng bảng hỏi được thực hiện với mẫu đại diện tại các phường, xã ở Thanh Hóa. Phỏng vấn sâu giúp hiểu rõ hơn về trải nghiệm và quan điểm của NCT. Phương pháp quan sát tham dự ghi nhận hành vi thực tế trong đời sống gia đình. Cách tiếp cận lý thuyết vai trò là khung phân tích chính, kết hợp với lý thuyết hiện đại hóa. Phương pháp nghiên cứu trường hợp cho phép đi sâu vào bối cảnh cụ thể của tỉnh Thanh Hóa.

IV. Kết luận và ứng dụng vai trò người cao tuổi trong gia đình

Kết luận về vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay cho thấy nhiều biến đổi phức tạp. NCT vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì truyền thống văn hóa và đạo đức gia đình. Họ là người kết nối các thế hệ, truyền đạt kinh nghiệm sống và là điểm tựa tinh thần cho con cháu. Tuy nhiên, vai trò này đã thay đổi đáng kể so với xã hội truyền thống. Quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa và biến đổi kinh tế-xã hội tạo ra cả cơ hội và thách thức. NCT cần thích ứng với hoàn cảnh mới, đồng thời gia đình và xã hội cần tạo điều kiện cho NCT phát huy vai trò. Nghiên cứu tại Thanh Hóa chỉ ra rằng sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị rất rõ nét. Gia đình đa thế hệ ở nông thôn thường duy trì vai trò của NCT tốt hơn. Phát huy vai trò của NCT là trách nhiệm của cả gia đình, cộng đồng và nhà nước.

4.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn gia đình

Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều bên. Gia đình cần xây dựng không gian cho NCT tham gia vào các hoạt động hàng ngày và quyết định quan trọng. Truyền thống hiếu kính ông bà, cha mẹ cần được giáo dục cho thế hệ trẻ từ nhỏ. Các tổ chức cộng đồng có vai trò tạo sân chơi, hoạt động văn hóa, thể thao cho NCT. Nhà nước cần ban hành và thực hiện hiệu quả chính sách an sinh xã hội cho NCT. Chương trình giáo dục về vai trò của NCT nên được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Ứng dụng công nghệ giúp NCT kết nối với con cháu ở xa.

4.2. Định hướng phát huy vai trò người cao tuổi trong tương lai

Định hướng phát huy vai trò người cao tuổi trong gia đình tương lai cần dựa trên nguyên tắc tôn trọng và phát huy nội lực. NCT cần được xem là nguồn lực chứ không phải đối tượng thụ động cần chăm sóc. Giáo dục liên thế hệ là giải pháp hiệu quả để kết nối kinh nghiệm truyền thống với kiến thức hiện đại. Xây dựng chính sách hỗ trợ NCT tham gia lao động, hoạt động xã hội phù hợp với sức khỏe. Phát triển mô hình cộng đồng hỗ trợ NCT, giảm gánh nặng cho gia đình hạt nhân. Tôn vinh các giá trị truyền thống gia đình trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi và cập nhật xu hướng biến đổi vai trò NCT theo thời gian.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những vấn đề nội dung, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về NCT liên quan đến đề tài 1. Những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu Quan điểm về vai trò của NCT trong gia đình và xã hội: Trên thế giới, ở nhiều nước có tỷ lệ NCT cao như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc…Chính phủ đã có những động thái về mặt chính sách đối với NCT. Sau khi về hưu NCT có nhu cầu lao động, có cơ hội được khuyến khích tiếp tục được cống hiến trí tuệ, kinh nghiệm, khẳng định vai trò của mình đối với xã hội và giảm đến mức tối thiểu sự phụ thuộc vào gia đình.

Ở Singapore, Chính phủ cho rằng, NCT về hưu của nước này có thể đóng góp cho nguồn nhân lực và cộng đồng chừng nào họ còn khả năng làm việc, và để khuyến khích NCT tiếp tục làm việc, Chính phủ Singapore có kế hoạch cập nhật luật lệ và cơ cấu tuyển dụng, theo đó yêu cầu công ty đề nghị tuyển dụng lại những nhân viên nào đến tuổi về hưu để họ làm việc thêm 3 năm. Ngoài ra, Singapore cũng sẽ có các biện pháp để thu hút nữ cao tuổi trở lại làm việc và tiến hành nhiều hoạt động để công dân cao tuổi sống tích cực hơn [2, tr. Ở Nhật Bản đã thông qua bộ luật ổn định về việc làm cho NCT vào năm 2013. Luật này yêu cầu mọi doanh nghiệp áp dụng tuổi về hưu với tuổi không trẻ hơn 60, đồng thời phải thực hiện một trong ba biện pháp: (1) xây dựng chế độ tuổi về hưu là 65; (2) có biện pháp duy trì việc làm đền 65 tuổi và (3) bãi bỏ chế độ về hưu.

Bên cạnh đó, chính phủ trợ cấp cho các doanh nghiệp tuyển dụng NCT thông qua các trung tâm nhà nước về ổn định việc làm, cũng như cho những doanh nghiệp có chế độ bảo đảm việc làm cho nhân viên tuổi 65. Đến nay, phần lớn doanh nghiệp Nhật Bản đều đã xây dựng chế độ làm việc đến 65 tuổi. Việc khuyến khích NCT tham gia lao động ngoài góp phần giải quyết những vấn đề khó khăn với sự phát triển kinh tế, chế độ an sinh xã hội, còn có mặt tích cực tạo ra sự hài lòng và khẳng định bản thân của NCT [20]. Có thể thấy, NCT ở Nhật Bản rất chủ động trong cuộc sống của họ khi về già, không phụ thuộc hoàn toàn vào con cái, với họ nghỉ hưu không có nghĩa là ngừng 13 hoạt động mà vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động để tự chủ được cuộc sống và nâng cao sức khỏe và tinh thần.

Theo tác giả, Simon De Beauvoir vai trò của NCT có sự thay đổi trong quá trình phát triển của xã hội. Đây là kết quả từ một nghiên cứu “Tuổi già” của Simon De Beauvoir (1998) bà cho rằng, ở xã hội nguyên thủy người già được ca ngợi theo lối thần bí trong các câu chuyện và họ được miêu tả như những người có tài nghệ ma thuật, những nhà sáng chế, người trị bệnh.Ở xã hội phương Tây thời kỳ đầu công nguyên, quyền sở hữu được thể chế, người già với tư cách là những người giầu có, có tiếng nói trọng lượng hơn trong đời sống công cộng và đời sống riêng [70, tr. Công nghiệp hóa đi kèm theo với sự đánh mất quyền hạn và uy tín xã hội ở người lớn tuổi, bởi lẽ nhiều người rời bỏ ruộng vườn cùng gia đình ra thành thị tìm việc mưu sinh…Hiểu biết của người lớn tuổi thường bị hạ thấp tầm quan trọng và không liên quan đến thế hệ trẻ. Truyền thống tỏ ra kém quan trọng trong các xã hội công nghiệp và vì thế người lớn tuổi không còn được kính trọng.

Nếu người lớn tuổi có địa vị xã hội khá cao trong xã hội nông nghiệp, thì trong xã hội công nghiệp, họ có địa vị xã hội thấp hơn nhiều. Vấn đề thường thấy ở tuổi già thời kỳ này là sự cô lập khỏi xã hội do đã nghỉ hưu, sức khỏe yếu, bệnh tật [70, tr. Trong thời kỳ hiện đại, chức năng và vai trò xã hội của người già, nhất là những người đàn ông cao tuổi đã có sự thay thay đổi. Người già trong các xã hội phát triển đến giai đoạn nhất định nào đó, cũng đối mặt với những thay đổi về vai trò.

Trong thế giới hiện đại, người già được coi là con người của quá khứ, và nhất là trong bối cảnh kinh tế chuyển đổi thì người già không còn được xem như một lực lượng lao động nữa, mà trong hệ thống hiện hành này họ chỉ có thể tham gia như là người tiêu dùng. Tuy nhiên ở nhiều xã hội người già vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong gia đình, cộng đồng. Mặt khác, sự thay thế và chuyển giao về mặt địa vị và vai trò xã hội từ NCT sang những người trẻ tuổi hơn qua thời gian nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển liên tục của xã hội, một số tác giả như Elaine Cumming và William Henry (1961) đại diện của thuyết gỡ bỏ (disengagement theory) đã giải thích tác động của sự lão hóa trong vòng đời của một con người, dựa trên thực tế sinh học là có sự sinh 14 ra, lớn lên, già yếu và chết. Vì vậy, khi tuổi già đến họ buộc phải từ bỏ phần lớn vai trò xã hội của mình.

Gia đình và xã hội cần giúp đỡ người già rút dần khỏi các vai trò xã hội quen thuộc, và không nhìn nhận họ như người phụ thuộc hoặc gánh nặng cho gia đình và xã hội, quan điểm này ngược lại với của lý thuyết hoạt động, vốn đề cao nhu cầu hoạt động của người già [70, tr. Ở Việt Nam, mặc dù chúng ta đã bước vào giai đoạn già hóa về dân số năm 2011 nhưng dân số nước ta vẫn đang nằm trong vùng dân số “vàng” nên những chiến lược về mặt chính sách đối với lao động là NCT chưa có nhiều điểm mới mà tập trung vào phát triển hệ thống an sinh và phúc lợi đối với NCT. Những gợi ý nghiên cứu về người già rút ra từ nghiên cứu “Hôn nhân và gia đình truyền thống ở đồng bằng sông Hồng: Ý nghĩa đối với nghiên cứu người già”của tác giả Khuất Thu Hồng (1999) cho rằng, nghiên cứu về vai trò của người già được thể hiện qua 2 vai trò quan trọng trong gia đình. Thứ nhất, NCT đảm nhận vai trò trong việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ như: chăm sóc vật chất (bế ẵm, săn sóc, tình cảm, hỗ trợ về vật chất), vai trò người già trong quá trình xã hội hóa của trẻ em trong gia đình và người già với các hoạt động xã hội có ý nghĩa giáo dục thế hệ trẻ.

Thứ hai, NCT giữ vai trò là người duy trì và bảo tồn văn hóa truyền thống như các chứng nhân lịch sử và người trung gian truyền đạt các giá trị văn hóa tinh thần của một dân tộc gồm: duy trì bảo tồn và truyền đạt lai các kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất, sinh hoạt…, giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam: lễ hội, thuần phong mĩ tục và là nhân chứng cung cấp những tư liệu quý giá về lịch sử dân tộc [24, tr. Cũng trong khuôn khổ nghiên cứu Người về hưu tại Hà Nội những năm 80, tác giả Nguyễn Hữu Minh (1999) chỉ ra, người già về hưu trong gia đình đảm nhận vai trò chủ yếu là nuôi nấng con cái và tổ chức đời sống cho gia đình…Bên cạnh việc đóng góp đáng kể vào kinh tế gia đình, người về hưu còn tham gia tích cực vào các công việc khác trong gia đình và đặc biệt là nuôi dạy các cháu [46]. Nhìn nhận dưới góc độ nghiên cứu về gia đình sau đổi mới, tác giả Lê Ngọc Văn trong cuốn “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”(2011) cho rằng, vai trò 15 của NCT trong gia đình là những vai trò được xác lập như: tạo thu nhập, cấp vốn, quyết định, chia sẻ kinh nghiệm, dạy dỗ con cháu, chăm nom cháu nhỏ [75, tr. Ở đời sống kinh tế, người già tham gia các hoạt động lao động- sản xuất gồm các công việc nhà, các hoạt động sản xuất kinh doanh, tham gia quyết định các công việc quan trọng và trợ giúp vật chất cho con cái.

Trong đời sống văn hóa người già giữ các vai trò giáo dục con cháu các giá trị văn hóa gia đình như: giáo dục nề nếp gia phong, duy trì nề nếp sinh hoạt trong gia đình, giải quyết mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình, giáo dục con cháu về cách làm ăn [34]. Vai trò của NCT trong đời sống hôn nhân của con cháu từ một vài góc nhìn nghiên cứu xã hội học: Trong xã hội Việt Nam truyền thống, hôn nhân và sinh con đẻ cái là hai việc quan trọng của các cặp vợ chồng và dòng họ, nó liên quan đến yếu tố môn đăng hộ đối và yếu tố duy trì nòi giống. Cha mẹ là người quyết định hôn nhân của con cái và là những người chủ yếu, thường là duy nhất lựa chọn đối tượng kết hôn. Trong cuốn Gia đình truyền thống một số tư liệu nghiên cứu Xã hội học, tác giả Khuất Thu Hồng cho rằng, hôn nhân truyền thống là do cha mẹ quyết định.

Ở cả nông thôn và đô thị, trong đại bộ phận các trường hợp, cha mẹ chủ động tiến hành việc lựa chọn và quyết định, con cái thường chấp nhận một cách thụ động, đôi khi còn bị ép buộc [24, tr. Điều này cũng thể hiện ở việc, cha mẹ là người lựa chọn con dâu, con rể. Tiêu chuẩn người bạn đời ở gia đình truyền thống Nho giáo thường bị quy định bởi kiểu gia đình vì chúng phản ánh hệ giá trị và chuẩn mực của gia đình đó.Nghĩa là cha mẹ lựa chọn con dâu, con rể dựa trên nhu cầu của gia đình mà không dựa trên sở thích cá nhân của con cái. Việc hôn nhân được coi là việc giữa hai gia đình, tuyệt nhiên không phải là việc cá nhân.

Một số tiêu chuẩn về gia đình chung cho cả thành phố và nông thôn trong chọn con dâu, con rể ở gia đình theo Nho hoặc hướng Nho [24, tr. 16 Con dâu Con rể 1. Môn đăng hộ đối, có thể thấp 1. Môn đăng hộ đối, phải cao hơn hơn nhà trai một chút.

hoặc bằng nhà gái. Tuổi tác bố mẹ tương đương. Tuổi tác bố mẹ tương đương. Gia đình nề nếp, đạo đức, 3.

Gia đình nề nếp, đạo đức, không có bệnh di truyền. không có bệnh di truyền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ