Giáo trình Xã hội học giới - PGS.TS Lê Thị Quý (357 trang)

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
357
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo trình Xã hội học Giới của PGS

Giáo trình Xã hội học Giới do PGS. Lê Thị Quý biên soạn là công trình học thuật 357 trang có giá trị nền tảng trong lĩnh vực nghiên cứu giới tại Việt Nam. Cuốn sách ra đời trong bối cảnh xã hội học giới còn được xem là ngành sinh sau đẻ muộn trong các khoa học xã hội, dù bất bình đẳng giới xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Tác giả xây dựng hệ thống lý luận rõ ràng, từ khái niệm cơ bản đến phương pháp luận nghiên cứu. Giáo trình phân tích mối quan hệ giữa giới với giai cấp, chủng tộc và các cấu trúc xã hội khác. Đây là tài liệu chuẩn được sử dụng tại các trường đại học và trung tâm nghiên cứu lớn trong nước. Nội dung trải dài từ lý thuyết nữ quyền, phân công lao động theo giới, đến các phong trào đấu tranh bình đẳng giới trên phạm vi toàn cầu. Tác giả viết với văn phong học thuật nghiêm túc, kết hợp dẫn chứng thực tế phong phú từ xã hội Việt Nam và quốc tế. Giáo trình đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập cơ sở khoa học cho các hoạt động thực tiễn về bình đẳng giới.

1.1. Bối cảnh ra đời và ý nghĩa học thuật của giáo trình

Xã hội học Giới phát triển muộn so với các ngành khoa học xã hội khác, nhưng tầm quan trọng của nó không thể phủ nhận. PGS. Lê Thị Quý biên soạn giáo trình này trong giai đoạn phong trào đấu tranh bình đẳng giới tại Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ, được Đảng và Nhà nước quan tâm ủng hộ. Giáo trình lấp đầy khoảng trống lý luận, cung cấp hệ thống khái niệm và phạm trù nghiên cứu chuẩn mực. Đây là nền tảng khoa học cho hàng thế hệ sinh viên và nhà nghiên cứu tiếp cận vấn đề giới một cách có hệ thống và chuyên sâu.

1.2. Phạm vi nội dung và cấu trúc 357 trang giáo trình

Với 357 trang, giáo trình bao phủ toàn diện các lĩnh vực cốt lõi của xã hội học giới. Cấu trúc được chia thành các chương logic, từ lý thuyết nền tảng đến ứng dụng thực tiễn. Nội dung đề cập đến các lý thuyết nữ quyền chủ yếu, phân tích cấu trúc quyền lực theo giới, mối quan hệ giữa giới với các bất bình đẳng xã hội khác. Tác giả dẫn chứng cụ thể từ lịch sử Việt Nam và so sánh quốc tế, giúp người đọc hiểu sâu sắc tính phổ quát lẫn đặc thù của vấn đề giới trong từng bối cảnh văn hóa xã hội.

II. Phân tích bất bình đẳng giới qua góc nhìn xã hội học của PGS

Giáo trình phân tích bất bình đẳng giới như một hiện tượng xã hội phức tạp, có mối liên hệ chặt chẽ với giai cấp và chủng tộc. Tác giả chỉ rõ nguyên tắc "nam tôn nữ ty" tồn tại xuyên suốt nhiều xã hội, nhưng các dạng bất bình đẳng này không hoạt động độc lập. Phụ nữ cùng giai cấp với nam giới vẫn chịu thiệt thòi, trong khi nam giới thuộc giai cấp thấp lại bị đặt dưới phụ nữ giai cấp cao hơn. Điều này được minh họa qua thơ Nguyễn Khuyến thời thực dân Pháp, hình ảnh quan cử An Nam phải khom lưng trước bà đầm nước Pháp phản ánh sự đan xen phức tạp giữa áp bức giới và áp bức dân tộc. Khác biệt quan trọng giữa bất bình đẳng giới so với bất bình đẳng giai cấp hay chủng tộc là nó xảy ra không chỉ ngoài xã hội mà còn trong chính gia đình, giữa những người có quan hệ huyết thống ruột thịt. Đây là lý do bất bình đẳng giới được các nhà nữ quyền xác định là dạng bất bình đẳng xuất hiện đầu tiên nhưng được phát hiện và đề cập muộn nhất trong lịch sử nhân loại.

2.1. Mối quan hệ giữa giới giai cấp và chủng tộc trong phân tích xã hội học

PGS. Lê Thị Quý trình bày rõ sự đan xen giữa ba trục bất bình đẳng: giới, giai cấp và chủng tộc. Không thể phân tích giới một cách biệt lập mà phải đặt trong tổng thể cấu trúc xã hội. Nam giới thuộc nhóm chủng tộc bị thống trị hoặc giai cấp thấp có thể bị đặt dưới phụ nữ thuộc nhóm thống trị hoặc giai cấp cao hơn. Cách tiếp cận giao thoa này giúp phân tích sắc nét hơn các hình thức áp bức đồng thời, tránh cái nhìn đơn chiều về vấn đề giới, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu toàn diện hơn cho các nhà khoa học xã hội.

2.2. Bất bình đẳng giới trong gia đình và xã hội Việt Nam

Tác giả nhấn mạnh đặc điểm riêng của bất bình đẳng giới so với các dạng bất bình đẳng khác: nó xảy ra trong không gian gia đình, giữa những người thân thiết. Trong xã hội Việt Nam truyền thống, phụ nữ chịu gánh nặng kép từ cả phạm vi công và tư. Lịch sử dân tộc ghi nhận những giai đoạn phụ nữ bị đối xử như tài sản. Sự xuất hiện của phong trào giải phóng phụ nữ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã mang lại thay đổi căn bản về pháp lý và nhận thức xã hội, dù khoảng cách giữa luật pháp và thực tiễn vẫn còn tồn tại.

III. Phương pháp luận nghiên cứu giới và phân công lao động theo giới

Giáo trình xây dựng khung phương pháp luận nghiên cứu xã hội học giới có tính hệ thống cao. Phân tích phân công lao động theo giới là một trong những công cụ cốt lõi. Lao động được chia thành hai loại hình cơ bản: lao động sản xuất và lao động tái sản xuất. Trong lao động sản xuất, cả nam và nữ cùng tham gia nhưng hình thức công việc và mức tiền công khác nhau rõ rệt. Nam giới thường nhận công việc đòi hỏi trình độ cao, thu nhập tốt hơn do có sức khỏe và ít bị ràng buộc bởi trách nhiệm gia đình. Phụ nữ phải mang thai, sinh đẻ và chăm sóc con cái nên thường nhận công việc đơn giản hơn, tiền công thấp hơn. Lao động tái sản xuất bao gồm tái sản xuất sinh học và tái sản xuất sức lao động. Lao động tái sản xuất sinh học của phụ nữ vô cùng nặng nhọc và nguy hiểm nhưng không được trả công. Lao động tái sản xuất sức lao động gồm nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc người thân bị xã hội nhầm lẫn coi là "thiên chức" phụ nữ, trong khi thực chất đây là "xã hội chức" mà xã hội giao phó.

3.1. Phân tích lao động sản xuất và tái sản xuất theo góc độ giới

Lao động sản xuất tạo ra hàng hóa và dịch vụ để trao đổi, tiêu thụ. Nam và nữ cùng tham gia nhưng bất bình đẳng về loại công việc và tiền lương rõ ràng. Lao động tái sản xuất hỗ trợ người sản xuất duy trì sức lao động qua các công việc nội trợ, chăm sóc. Công việc tái sản xuất chủ yếu do phụ nữ đảm trách và không được tính vào GDP, không được trả công xứng đáng. Giáo trình của PGS. Lê Thị Quý làm rõ tính chất xã hội của phân công này, bác bỏ quan điểm coi việc nhà là bản năng tự nhiên của phụ nữ.

3.2. Công cụ và phương pháp nghiên cứu xã hội học giới

Giáo trình hướng dẫn sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học định tính và định lượng trong phân tích vấn đề giới. Phỏng vấn sâu, điều tra xã hội học và phân tích tài liệu là các công cụ chủ yếu. Phương pháp tiếp cận có nhạy cảm giới yêu cầu nhà nghiên cứu nhận thức được định kiến tiềm ẩn trong quá trình thu thập và phân tích dữ liệu. Giáo trình nhấn mạnh việc xây dựng bộ chỉ số đo lường bình đẳng giới theo tiêu chuẩn quốc tế, giúp Việt Nam hội nhập với thông lệ nghiên cứu và chính sách giới toàn cầu.

IV. Ứng dụng giáo trình xã hội học giới trong đào tạo và chính sách

Giáo trình Xã hội học Giới của PGS. Lê Thị Quý có ứng dụng thực tiễn rộng rãi trong hệ thống đại học và hoạch định chính sách tại Việt Nam. Hầu hết các trường đại học và trung tâm nghiên cứu lớn đã đưa tài liệu này vào chương trình giảng dạy. Sinh viên ngành xã hội học, tâm lý học, luật học và các ngành khoa học xã hội khác đều cần nắm vững nội dung giáo trình để hiểu đúng về bình đẳng giới. Trong lĩnh vực chính sách, các chuyên gia sử dụng khung lý thuyết từ giáo trình để đánh giá tác động giới của các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Bình đẳng giới ngày càng được xem là chỉ số quan trọng đánh giá sự phát triển tiến bộ của quốc gia. Giáo trình cung cấp ngôn ngữ chung và công cụ phân tích để các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức xã hội dân sự cùng tham gia thúc đẩy bình đẳng giới. Đây là tài liệu thiết yếu cho bất kỳ ai nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề giới tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

4.1. Vai trò giáo trình trong đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học

Giáo trình 357 trang của PGS. Lê Thị Quý là tài liệu chuẩn cho các chương trình đại học và sau đại học ngành xã hội học tại Việt Nam. Nó cung cấp nền tảng lý luận vững chắc để sinh viên tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu. Các nghiên cứu sinh tiến sĩ sử dụng khung lý thuyết từ giáo trình làm cơ sở cho luận án. Tại các trung tâm nghiên cứu về phụ nữ và giới, giáo trình được dùng làm tài liệu tham chiếu khi xây dựng đề án nghiên cứu. Giáo trình còn là cầu nối giữa học thuật trong nước và các lý thuyết giới quốc tế đương đại.

4.2. Đóng góp của giáo trình vào phong trào bình đẳng giới tại Việt Nam

Sự ra đời của Xã hội học Giới với tư cách khoa học đã đưa phong trào bình đẳng giới từ đấu tranh tự phát, đơn lẻ sang đấu tranh có định hướng chiến lược. Giáo trình của PGS. Lê Thị Quý giúp xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung cụ thể cho các hoạt động thực tiễn. Các tổ chức phụ nữ, cơ quan nhà nước và NGO đều có thể sử dụng tài liệu này làm cơ sở lập luận khi xây dựng chính sách và chương trình hành động. Đây là đóng góp học thuật quan trọng trong tiến trình thúc đẩy bình đẳng giới toàn diện tại Việt Nam.

22/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH XÃ HỘI HỌC GIỚI GIÁO TRÌNH XÃ HỘI HỌC GIỚI Tác giả: PGS. LÊ THỊ QUÝ LỜI NÓI ĐẦU Vấn đề giới nảy sinh từ rất lâu cùng với sự phát sinh, phát triển của con người và xã hội, nhưng khoa học về giới lại chỉ được coi là một trong những ngành khoa học sinh sau đẻ muộn nhất trong các ngành khoa học xã hội. Đó là một trong những khiếm khuyết đáng chê trách nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại. Trong hàng loạt những phát kiến về sự tiến bộ xã hội, các nền văn minh, về sự giải phóng con người, về các cuộc cách mạng xã hội, thì những phát kiến hướng tới sự tiến bộ về giới và bình đẳng giới chỉ đứng ở những vị trí sau cùng, mặc dù áp bức giới xuất hiện đầu tiên trong xã hội loài người. Thật khó tưởng tượng trong khi nhân loại đang ở thế kỷ thứ XXI, đang hướng tới những chuyển biến to lớn trong nhận thức và tư duy, chinh phục các khoảng không vũ trụ, đề cao sự bình đẳng, bác ái, đề cao sức mạnh của nguồn lực con người, thì ở nhiều nơi trên thế giới, bình đẳng giới vẫn chỉ là một ước mơ xa vời. Phụ nữ vẫn bị bóc lột thậm tệ, bị đày đoạ về thể xác và tâm hồn, bị buôn bán như nô lệ, bị đưa ra làm trò vui cho những kẻ lắm tiền, nhiều của. Sự bất bình đẳng về giới trong lịch sử phát triển nhân loại đã đòi hỏi nhân loại tiến bộ phải thay đổi nhận thức và hành vi về giới. Sự xuất hiện của các phong trào phụ nữ, phong trào đấu tranh vì bình đẳng giới trên phạm vi toàn thế giới với hàng triệu người, trong đó có cả nam giới, các nhà khoa học, các nhà tư tưởng tham gia thời gian gần đây đã nói lên nhu cầu về bình đẳng giới ngày càng cấp thiết đối với con đường đi tới sự tiến bộ. Bình đẳng giới đã được xem xét như là một trong những chỉ số quan trọng nhất nói lên sự phát triển tiến bộ của một quốc gia. Trong xu hướng chuyển dần từ đấu tranh tự phát, đơn lẻ sang đấu tranh tự giác mang tính rộng lớn, có định hướng chiến lược về bình đẳng giới, thì những nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận ngày càng trở nên cần thiết. Nó tạo lập một cơ sở khoa học đúng đắn, có tính lý luận, phương pháp luận và phương pháp hoạt động hiệu quả cho phong trào thực tiễn. Bởi vậy, sự ra đời của các khoa học về giới, trong đó có Xã hội học giới đã tạo ra cho phong trào đấu tranh vì sự bình đẳng giới một bước phát triển mới về chất. Nó chỉ ra được những mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung hoạt động cụ thể để hướng tới sự thống nhất cho cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới. Chỉ trong một thời gian ngắn, khoa học về Xã hội học giới đã phát triển nhanh chóng. Hầu hết các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu và đào tạo lớn trên thế giới đều có bộ phận nghiên cứu và giảng dạy về Xã hội học giới. Xã hội học giới ngày càng xác định rõ hơn về đối tượng nghiên cứu, hệ thống các lý thuyết, khái niệm, phạm trù và bộ công cụ nghiên cứu, nhằm định hướng cho những hoạt động thực tiễn. Ở nước ta, Xã hội học giới đã được phát triển khá mạnh mẽ trong những năm gần đây. Cùng với phong trào đấu tranh giải phóng phụ nữ được Đảng và Nhà nước quan tâm, ủng hộ mạnh mẽ, phong trào đấu tranh vì sự bình đẳng giới cũng đã thâm nhập vào nhiều tổ chức chính trị, xã hội, các đoàn thể, cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ và lan rộng ra toàn xã hội. Những nghiên cứu và đào tạo về giới cũng phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Trong xu hướng phát triển chung đó, nhu cầu về thông tin khoa học, thống nhất những nội dung nghiên cứu và đào tạo đặc thù về giới ngày càng trở nên cấp bách. Trong thời gian qua, mặc dù chúng ta đã có nhiều nỗ lực trong việc biên soạn, tuyển dịch các tài liệu trong và ngoài nước nhằm đáp ứng những đòi hỏi của việc phát triển các nghiên cứu và giảng dạy về Xã hội học giới, nhưng nhìn chung những tài liệu này vẫn chưa đáp ứng được với đòi hỏi của thực tế. Tài liệu được giới thiệu và giảng dạy trong các trường đại học phần lớn được tuyển dịch từ nước ngoài, theo nhiều kênh khác nhau, một số tài liệu giảng dạy được biên soạn nhưng chưa thực sự gắn kết với hoàn cảnh đặc thù ở Việt Nam. Điều đó khiến chúng ta không tránh khỏi những lúng túng trong việc phải nhận thức, lý giải và vận dụng một cách có hiệu quả những vấn đề cơ bản về giới ở Việt Nam. Việc biên soạn một cuốn giáo trình, lại là giáo trình về một lĩnh vực khá mới mẻ và nhạy cảm như Xã hội học giới là một công việc khó khăn. Được sự khuyến khích và động viên của đồng nghiệp và sinh viên, tác giả, trên cơ sở ghi chép những thông tin và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy môn Xã hội học về giới trong nhiều năm qua đã biên soạn cuốn giáo trình này. Tác giả coi đây như là một dịp để tìm kiếm sự đồng cảm, tiếp thu thêm ý kiến và đồng thời chia sẻ với những người quan tâm về vấn đề này. Tác giả cũng đã cố gắng lược bớt những vấn đề phức tạp vốn có của Xã hội học giới, nhằm diễn giải vấn đề một cách đơn giản và dễ hiểu hơn. Mặc dù vậy, do những giới hạn về thời gian, về khuôn khổ của một cuốn giáo trình và cả về khả năng nhận thức, nên nội dung chắc chắn sẽ còn cần phải được bổ sung, sửa chữa. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để giáo trình hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau. Giáo trình này nêu lên những vấn đề đương đại nhưng hy vọng rằng trong tương lai, vấn đề bình đẳng giới sẽ thay đổi, phụ nữ sẽ có bình đẳng thực sự và cuốn sách sẽ chỉ còn giá trị như một tài liệu viết về lịch sử. Tác giả BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT AP WLD Asia Pác Forum ơn Women Law and Development (Tổ chức Diễn đàn châu á - Thái Bình Dương về Phụ nữ, luật pháp và phát triển) BLGĐ Bạo lực gia đình CNTB Chủ nghĩa tư bản CNĐQ Chủ nghĩa đế quốc CNXH Chủ nghĩa xã hội F.M Female Genital Mutination F.M Female Sexual Mutilation GDI Chỉ số bình đẳng giới HDI Phát triển con người LHPN Liên hiệp phụ nữ LHQ Liên hợp quốc NCFAW Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ NGO Phi Chính phủ RCGAD Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển SKSS Sức khoẻ sinh sản UBND Uỷ ban nhân dân UBQG Uỷ ban quốc gia UNDP Cơ quan phát triển Liên hợp quốc UNICEF Quỹ trẻ em Liên hợp quốc UNFPA Quỹ dân số Liên hợp Quốc UNIFEM Quỹ phụ nữ Liên hợp quốc UBDS GĐ & TE Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em XHH Xã hội học WHO Tổ chức Y tế thế giới Phần thứ nhất. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN Bài 1. TỪ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC ĐẾN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC GIỚI I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC Mỗi con người đều có một hình dáng, khuôn mặt và tính cách riêng biệt. Những nét riêng biệt, muôn hình muôn vẻ này hợp nhau lại thành các nhóm xã hội trong một xã hội đa dạng và phong phú. Cũng như vậy, mỗi ngành khoa học đều có những nét đặc thù khác biệt với các ngành khác, tao nên bề dày hệ thống các kiến thức vĩ đại của nhân loại. Để xác định một chuyên ngành khoa học, chúng ta cần đặt ra những câu hỏi mang tính nguyên tắc như: - Chuyên ngành ấy là gì? - Đối tượng nghiên cứu của nó ra sao? - Sự gần gũi và khác biệt của nó với những ngành khoa học khác ở chỗ nào? Vào thế kỷ XIX, nhà triết học Pháp August Comte là người đầu tiên đã dùng tên Xã hội học (Sociology) để đặt cho một ngành khoa học xã hội mới mà ông vừa muốn tách ra khỏi Triết học và lại vừa muốn phân biệt nó với các ngành khoa học xã hội khác. Và sau này, những thế hệ kế tiếp đã coi ông như là “cha đẻ”, là người đặt nền móng cho ngành khoa học quan trọng và hấp dẫn này. Đồng thời với việc đặt tên cho ngành khoa học này, August Comte cũng đưa ra được một bộ khung lý luận, phương pháp luận và phương pháp cơ bản để xã hội học có thể tồn tại như một khoa học độc lập. Ngày nay, cho dù xã hội học đã phát triển khác xa với thời đại của A. Comte, đã bao hàm trong mình vô số những xu hướng và trường phái khác nhau thì những tiền đề cơ bản mà A. Comte đưa ra vẫn là những nền móng cốt yếu nhất Xã hội giới cũng như tất cả những chuyên ngành xã hội học khác đều nảy sinh và phát triển từ một nền móng chung nhất này. Chúng ta đều biết, từ rất lâu rồi, đã có nhiều ngành khoa học lấy xã hội làm đối tượng nghiên cứu. Những ngành khoa học này tập hợp lại dưới ngọn cờ chung của các khoa học xã hội và nhân văn. Mỗi ngành khoa học xã hội và nhân văn nói trên lại chiếm một vị trí và vai trò nhất định trong lý luận khoa học cũng như trong thực tiễn. Nói một cách cụ thể là chúng có đối tượng nghiên cứu, hệ thống lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu riêng. Chẳng hạn, nghiên cứu về kinh tế đã có Kinh tế học, dân tộc có Dân tộc học, chính trị có Chính trị học, dân số có Dân số học; nghiên cứu những sự kiện xảy ra trong quá khứ có ngành khoa học Lịch sử… Bởi vậy, việc xác định đối tượng của XHH nói chung và XHH giới nói riêng chỉ có thể được thực hiện khi khẳng định rõ được tính riêng biệt, không trùng lặp của nó với những ngành khoa học xã hội và nhân văn khác. Nếu như Triết học có đối tượng nghiên cứu là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội, tư duy trong sự vận động và phát triển của xã hội; Khoa học Lịch sử có đối tượng nghiên cứu hướng vào việc tái hiện lại những sự việc diễn ra trong quá khứ, chẳng hạn xã hội con người từ thời cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại để rút ra các bài học kinh nghiệm và tôn vinh lòng tự hào của các dân tộc… thì XHH lại tập trung chủ yếu vào những sự tương tác xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ