Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG THU HÚT CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan về khu công nghiệp 1. Khái niệm Khu công nghiệp (KCN) KCN là mô hình kinh tế linh hoạt, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN), vì họ hy vọng vào thị trường nội địa, một thị trường có dung lượng lớn để tiêu thụ hàng hóa của mình. Việc cho phép tiêu thụ hàng hóa tại thị trường nội địa sẽ kích thích cạnh tranh sản xuất trong nước từ đó nâng cao khả năng xuất khẩu, góp phần tích cực đẩy lùi và ngăn chặn hàng nhập lậu.
Theo Luật đầu tư số 59/2005/QH10 ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ. Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ Khu Kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biêth thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ 13 1. Đặc trưng của Khu công nghiệp Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng xét về bản chất các KCN có những đặc trưng sau: KCN được coi là một địa bàn tự do thu nhỏ về chính sách kinh tế - xã hội.
KCN là nơi thử nghiệm chính sách mới tốt nhất và là đầu tầu tiên phong trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Việc xây dựng các KCN có thể làm thay đổi diện mạo một vùng kinh tế, tạo điều kiện cho dân cư được tiếp cận với một nền công nghiệp hiện đại, làm thay đổi tập quán sinh hoạt ở địa phương. KCN là nơi tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả nhất những thành tựu của khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ bởi một địa bàn tương đối rộng, được quy hoạch theo một kế hoạch và chiến lược phát triển lâu dài của nền kinh tế, với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương đối hiện đại, đồng bộ, cùng với những chính sách ưu đãi mà Nhà nước dành cho các KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các KCN có thể tiếp nhận các công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới, tận dụng được lợi thế của nước đi sau để rút ngắn dần khoảng cách về khoa học công nghệ với các nước khác. Việc tiếp nhận tiến bộ khoa học công nghệ đã tạo ra ưu thế nổi trội của các KCN mà các khu vực kinh tế khác ít hoặc không có cơ hội.
KCN là bộ phận không thể tách rời của một quốc gia, thường là những khu vực địa lý riêng biệt thích hợp, có hàng rào giới hạn với các vùng lãnh thổ còn lại của nước sở tại và được Chính phủ nước đó chính thức cho phép thành lập. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 1. Khái niệm FDI Theo Luật đầu tư năm 2005, FDI là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. 14 Có thể hiểu FDI là một loại hình đầu tư quốc tế được thực hiện thông qua việc thành lập các công ty con để mở rộng phạm vi hoạt động của các công ty ra toàn cầu và làm chủ từng phần hay toàn bộ công ty con đó.
Việc mở rộng sản xuất thông qua các hình thức FDI không chỉ đơn thuần là sự chu chuyển tài chính quốc tế, mà cùng với nó là sự chuyển giao công nghệ, bí quyết quản lý và các tài sản vô hình khác. FDI là một loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó chủ sở hữu đồng thời là người trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sử dụng vốn. Như vậy, FDI là một hình thức đầu tư quốc tế, ở đó có sự thống nhất giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn – người bỏ vốn đồng thời là người sử dụng vốn. Họ trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án FDI.
Họ tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án đó. Đặc điểm của FDI Một là, FDI là hình thức mà các nhà ĐTNN tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh, làm ăn lâu dài ở nước sở tại, hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Nước tiếp nhận FDI ít phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo của người cung ứng vốn như tiếp nhận ODA (Official Development Assistance – hỗ trợ phát triển chính thức), kể cả kèm theo những điều kiện về chính trị có ảnh hưởng đến công việc nội bộ, chủ quyền của nước đi vay. Còn vay thương mại thì lãi suất thường cao, chính phủ và các doanh nghiệp của nước đi vay thường không chịu đựng nổi, khó có khả năng trả nợ.
FDI là hình thức được các nước đang phát triển rất quan tâm và sử dụng vì nó giúp họ khai thác được tối đa nguồn lực của đất nước về tài nguyên, con người… Hai là, theo hình thức FDI, vốn của nhà ĐTNN nằm trực tiếp trong nhà xưởng, thiết bị trên đất nước tiếp nhận đầu tư. Trong trường hợp vì một lý do nào đó chẳng hạn như khủng hoảng tài chính - tiền tệ, nhà đầu tư phải chuyển 15 đổi nó thành tiền bằng cách bán hoặc thanh lý nhà máy mới thu hồi vốn và chuyển về nước được. Ba là, các nước đang phát triển có đặc điểm là trình độ khoa học, công nghệ thấp. Để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển các nước này cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới, phương thức quản lý tiên tiến của các nước phát triển.
Chính vì vậy, FDI có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu công nghệ… Bốn là, chủ thể chủ yếu của hoạt động FDI trên thế giới hiện nay là các Công ty xuyên quốc gia và Công ty đa quốc gia với mạng lưới toàn cầu. Thông qua tiếp nhận đầu tư của các Công ty xuyên quốc gia và Công ty đa quốc gia, nước tiếp nhận FDI có điều kiện thuận lợi để tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, làm quen với tập quán thương mại quốc tế, thích nghi nhanh với những thay đổi trên thị trường thế giới… 1. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều Bên tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi Bên mà không thành lập pháp nhân mới.
Theo Luật đầu tư năm 2005, hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thứ đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Đặc điểm cơ bản của hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là các Bên cùng nhau góp vốn, cùng tham gia quản lý hoạt động kinh doanh thông qua 16 một Ban điều phối chung, cùng phân chia kết quả kinh doanh theo tỷ lệ góp vốn. Hình thức pháp lý ở Việt Nam là không được thành lập pháp nhân. Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) Luật ĐTNN tại Việt Nam quy định, “DNLD là doanh nghiệp do hai Bên hoặc nhiều Bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp FDI hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do DNLD hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở hợp đồng liên doanh”1.
Cơ sở pháp lý chủ yếu để thành lập DNLD là hợp đồng liên doanh. Tỷ lệ góp vốn pháp định Luật pháp Việt Nam quy định tỷ lệ góp vốn tối thiểu của bên nước ngoài là 30%. Đặc điểm của DNLD là: Nhà đầu tư trong nước và nhà ĐTNN cùng góp vốn, cùng quản lý, cùng phân chia lợi nhuận và chia sẻ rủi ro trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, nghiên cứu theo sự thỏa thuận giữa các bên được thừa nhận trong hợp đồng liên doanh đã ký kết phù hợp với luật pháp nước sở tại và luật lệ quốc tế. Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là đơn vị kinh doanh hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài, do họ thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Luật ĐTNN tại Việt Nam quy định doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là doanh nghiệp do nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn tại Việt Nam Cơ sở pháp lý để thành lập doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là GCNĐT và Điều lệ doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuẩn y. 1 Khoản 7, Điều 2, Luật ĐTNN 17 1. Hợp đồng BOT, BTO và BT a. Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) BOT là việc nhà đầu tư bỏ vốn, công nghệ tiến hành đầu tư vào một công trình kết cấu hạ tầng trên cơ sở một hợp đồng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Theo đó, nhà đầu tư sẽ tiến hành xây dựng công trình, tổ chức kinh doanh trong một thời gian nhất định nhằm thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý rồi chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Theo Luật đầu tư năm 2005, BOT là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; Hết thời hạn, nhà ĐTNN chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam [11, Điều 3].