mở đầu trình bày các nội dung liên quan đến lý do cần thiết của luận văn, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và bố cục đề tài. 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Trong chương này, tác giả hệ thống lại cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu trước đây về hiệu quả dự án ĐTXD. Đồng thời xây dựng một mô hình lý thuyết cùng với các giả thuyết. Cơ sở lý luận về hiệu quả dự án đầu tư xây dựng 2.
Các khái niệm Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Ở khía cạnh đề tài, tác giả chỉ đề cập đến lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Đó là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà điều hành, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kĩ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả đó. Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lí nhà nước các cấp. Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
6 Riêng về các công trình điện, căn cứ khoản 16 điều 3 Luật Điện lực, “Công trình điện lực là tổ hợp các phương tiện, máy móc, thiết bị, kết cấu xây dựng phục vụ trực tiếp cho hoạt động phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, mua bán điện; hệ thống bảo vệ công trình điện lực; hành lang bảo vệ an toàn lưới điện; đất sử dụng cho công trình điện lực và công trình phụ trợ khác”. Quy định về công tác thiết kế dự án lưới điện cấp điện áp 110-500kV theo quyết định số 1289/QĐ- EVN ngày 1/11/2017 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các dự án/công trình đường dây tải điện và trạm biến áp cấp điện áp đến 500kV phải do EVN và các đơn vị thuộc EVN làm chủ đầu tư. Những thành phần chính của dự án đầu tư gồm: + Các mục tiêu cần thực hiện: Đây là thành phần quan trọng không thể thiếu khi thực hiện dự án. Chủ đầu tư phải xác định cụ thể những lợi ích chung và riêng là gì.
+ Các kết quả: Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án. Những kết quả có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. + Các hoạt động: Những hành động hoặc nhiệm vụ được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nêu trên, cùng với tiến độ và cam kết của các bộ phận sẽ được tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. + Các nguồn lực: Các nguồn lực về vật chất, tài chính và con người là không thể thiếu trong quá trình thực hiện dự án.
Giá trị các nguồn lực này chính là vốn đầu tư của dự án. + Thời gian: Độ dài thực hiện dự án đầu tư cần được xác định rõ ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư và tuân thủ nghiêm túc trong quá trình thực hiện. Những giai đoạn chính trong quá trình thực hiện dự án. Các giai đoạn này vừa có mối quan hệ chặt chẽ nhưng lại độc lập tương đối với nhau tạo thành chu trình của dự án.
Chu trình của dự án thường gồm 3 giai đoạn: - Giai đoạn chuẩn bị đầu tư; - Giai đoạn thực hiện đầu tư; - Giai đoạn kết thúc đầu tư. 7 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở giai đoạn sau, đặc biệt đối với giai đoạn kết thúc đầu tư. Chủ đầu tư phải nắm vững các giai đoạn, thực hiện đúng trình tự, phân bổ các nguồn lực cho hợp lý để đảm bảo đầu tư kịp thời và có hiệu quả. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng cơ bản: Mỗi dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đều có qui mô vốn, tính chất, thời gian thực hiện.
là khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn chúng đều có 6 đặc điểm chung sau đây: - Tính duy nhất: Tính riêng biệt của từng dự án càng thể hiện rõ trong những điều kiện thực hiện khác nhau về địa điểm, không gian, thời gian, môi trường luôn thay đổi. Điều này đã tạo nên tính duy nhất cho dự án. - Hạn chế về thời gian và quy mô: Mỗi dự án đều được xác định điểm khởi đầu và điểm kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn liên quan.
Thời điểm hoàn thành dự án là điểm trọng tâm của dự án. Dự án có hiệu quả hay không được đánh giá bằng khả năng có đạt được đúng thời điểm kết thúc đã định trước hay không. - Nguồn lực thực hiện: Rất nhiều nguồn lực như tài chính, máy móc kỹ thuật, con người, đất đai… được sử dụng để thực hiện một dự án. Mỗi nguồn lực có thể được cung cấp bởi nhiều chủ thể khác nhau.
- Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo, mới lạ. Kết quả của dự án có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ mà dự án đem lại là duy nhất, lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại. - Môi trường hoạt động “va chạm”: Các dự án trong một tổ chức quan hệ chia sẻ, cạnh tranh nhau cùng một nguồn lực khan hiếm như tiền vốn, nhân lực, thiết bị… - Tính bất định và rủi ro cao: Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư xây dựng thường có độ rủi ro cao. Phân loại dự án đầu tư: Thực tế, các dự án đầu tư có loại hình, quy mô và thời hạn rất đa dạng. Tùy theo mục đích nghiên cứu và quản lý mà người ta có thể phân loại dự án đầu tư theo các tiêu thức khác nhau: 8 - Theo quy mô và tính chất: Những dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn lại được chia thành 3 nhóm A, B, C (quy định tại Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng). - Cũng theo Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ, dự án được phân loại theo nguồn vốn đầu tư gồm: Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách; Dự án sử dụng vốn khác.
Phân loại dự án đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý dự án, đặc biệt là các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước như EVNHCMC. Hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng cơ bản 2. Hiệu quả tài chính 2. Khái niệm Hiệu quả tài chính (Etc) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống của người lao động trong các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ trên số vốn đầu tư mà đơn vị đã sử dụng so với các kỳ khác, các đơn vị khác hoặc so với định mức chung.
á ế ả à ơ ở đượ ự ệ đầ ư Etc = ố ố đầ ư à ơ ở đã ự ệ để ạ á ế ả ê Đầu tư được coi là có hiệu quả khi Etc > Etc0 Trong đó, Etc0 là chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của kỳ khác mà đơn vị đã đạt được được chọn làm kết quả so sánh, hoặc của đơn vị khác đạt tiêu chuẩn hiệu quả. Do đó, để phản ánh hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư người ta phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu. Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của hiệu quả và được sử dụng trong điều kiện nhất định. Trong đó, chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền được sử dụng rộng rãi nhất.
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư Thời gian thu hồi vốn đầu tư (ký hiệu T): là số thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi đủ số vốn đầu tư đã bỏ ra. Khi lập dự án, người ta thường sử dụng hai khái niệm thời gian thu hồi vốn đơn (không tính đến giá trị tiền theo thời gian) và thời gian thu hồi vốn động (có tính đến giá trị tiền theo thời gian); và vì thế phải chuyển các dòng lợi nhuận, khấu hao và vốn đầu tư về cùng một thời điểm. Chỉ tiêu này giúp chúng ta nhìn rõ thời gian thu hồi vốn của một dự án để có giải pháp rút ngắn. Nhược điểm của nó là phụ thuộc nhiều vào lãi suất tính toán và dễ gây ngộ nhận phải chọn phương án có T nhỏ nhất mà bỏ qua phương án có NPV cao.
Giá trị hiện tại ròng (kí hiệu NPV): là thu nhập thuần của dự án sau khi đã trừ đi các khoản chi phí của cả đời dự án được tính về mặt bằng hiện tại. NPV phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ chiết khấu dùng để tính toán trong khi việc xác định tỷ lệ chiết khấu là rất khó khăn trong thị trường vốn đầy biến động. Chỉ tiêu này được sử dụng rộng rãi nhưng đòi hỏi xác định rõ ràng dòng thu và dòng chi của cả đời dự án. Đây là công việc khó khăn và nhược điểm của phương pháp này.