đặt vấn đề về quản lý, sử dụng nguồn vốn và tiến độ thi công lên hàng đầu sau đó mới đến quản lý chất lượng công trình. 1 Để nâng cao chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình cần phải giải quyết vấn đề ở tất cả các khâu quản lý trong vòng đời thực hiện dự án. Cần triển khai một cách quyết liệt và đồng bộ ở tất cả các cấp, các ngành và các địa phương. Để đảm bảo hiệu quả, hiệu lực chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình, phải tạo được “cơ chế trách nhiệm”.
Như vậy sẽ không còn tình trạng khi xảy ra bất cứ sự cố nào đều được đổ lỗi do nguyên nhân khách quan với hàng loạt lý do được viện dẫn. Vì vậy tác giả luận văn chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Thường Tín”. Mục đích của đề tài Thông qua việc tìm hiểu công tác quản lý tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Thường Tín, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý xây dựng huyện Thường Tín. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu: Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã dựa trên cách tiếp cận cơ sở lý luận về khoa học quản lý dự án và các quy định hiện hành của hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực nghiên cứu.
Đồng thời luận văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài trong điều kiện thực tế tại Việt Nam hiện nay, đó là: - Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu; - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế; - Phương pháp thống kê; - Phương pháp phân tích so sánh; - Một số phương pháp kết hợp khác để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề được đặt ra. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: a) Đối tượng nghiên cứu: 2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung và năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng nói riêng; những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý dự án và các giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự án tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. b) Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn được tập trung vào công tác quản lý các dự án xây dựng cơ bản được thực hiện trong giai đoạn 2011– 2016 tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Thường Tín. Kết quả đạt được: - Phân tích thực trạng công tác đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện Thường Tín thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2011-2016.
- Trên cơ sở những bất cập, hạn chế còn tồn tại tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Thường Tín, tác giả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Thường Tín. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: a) Ý nghĩa khoa học của đề tài: Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, những mặt còn hạn chế trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện Thường Tín trong giai đoạn từ năm 201 đến năm 2016. Từ đó làm cơ sở để đề xuất các biện pháp để nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện Thường Tín trong những năm tiếp theo. b) Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể vận dụng vào để nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng trong các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện Thường Tín nói riêng và các huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội nói chung trong những năm tiếp theo.
TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Tổng quan về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng. Khái niệm dự án đầu tư. Trong những năm gần đây, đầu tư là một trong những hoạt động quan trọng được tất cả các cấp, các ngành ở nước ta quan tâm.
Đó là một lĩnh vực mang lại cho nền kinh tế những sự tăng trưởng đáng tự hào thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư. Để hiểu về dự án đầu tư xây dựng, trước hết cần tìm hiểu thế nào là dự án và các đặc điểm cơ bản của một dự án. Dự án bao gồm nhiều hoạt động nhằm đạt được mục tiêu và mục đích cụ thể. Các phương diện chính của dự án.
- Phương diện thời gian: Về phương diện này dự án là một quá trình bao gồm 3 giai đoạn kế tiếp nhau và chi phối nhau: Xác định, nghiên cứu và lập dự án; giai đoạn triển khai dự án; giai đoạn khai thác dự án. - Phương diện kinh phí dự án: Kinh phí dự án là biểu hiện bằng tiền của các nguồn lực cần thiết cho hoạt động của dự án. Trung tâm của phương diện này là vấn đề vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư. - Phương diện độ hoàn thiện của dự án (chất lượng dự án).
- Dự án đầu tư: Tùy vào góc độ xem xét mà dự án đầu tư được định nghĩa khác nhau: + Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập tài liệu mang tính pháp lý, mà ở đó được trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. 4 + Theo góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý mà ở đó được hoạch định về việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế, tài chính trong một thời gian dài. + Theo góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung.
+ Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực. Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 thì: Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Đặc điểm của dự án. - Dự án là một hoạt động có mục đích: Mục đích, hay còn gọi là mục tiêu tổng thể của dự án là kết quả cuối cùng mà người đầu tư mong đợi.
Để đạt được mục đích, có thể phân chia kết quả mong muốn thành các mục tiêu cụ thể cần đạt được trong giai đoạn của dự án. Các mục tiêu này cần được xác lập nhằm đảm bảo nguyên tắc: cụ thể, đo lường được, khả thi, cân đối về nguồn lực và có thời hạn. - Dự án có chu kỳ sống: Một dự án có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc, việc kết thúc của một dự án thường sẽ là thời điểm để người ta bắt đầu nghiên cứu cơ hội đầu tư cho một dự án mới. - Tính tương hỗ của dự án: Một dự án thường có quan hệ với một dự án khác đang được thực hiện hay vận hành bởi cùng một chủ đầu tư và bản thân dự án quan hệ tương hỗ với chủ đầu tư thông qua các tiêu chuẩn, các quy định và các hoạt động hàng ngày của chủ đầu tư.
5 - Tính đặc thù: Mỗi dự án đều có những yếu tố đặc thù so với các dự án khác, không có dự án nghiên cứu phát triển hay dự án xây dựng, dự án sản xuất nào hoàn toàn giống nhau. Mỗi dự án đều được tiến hành nghiên cứu tỉ mỉ, thiết kế kỹ thuật cụ thể, việc quản lý và khai thác vận hành cũng có những đặc thù khác nhau. - Tính mâu thuẫn: Một dự án luôn mâu thuẫn với các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như mâu thuẫn với các dự án khác về nguồn lực và chứa đựng bên trong những mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa các bộ phận thực hiện dự án, mâu thuẫn giữa các nhiệm vụ về nguồn lực thực hiện. Khi xem xét các bên hữu quan của dự án, ta thấy tồn tại hàng loạt các mâu thuẫn: chủ đầu tư muốn thay đổi một điểm nào đó, nhà thầu muốn lợi nhuận và việc thay đổi có thể ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận, việc thay đổi có thể làm Ban quản lý dự án khó hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian.
- Dự án có mục đích và kết quả xác định. Mỗi dự án là một tập hợp của rất nhiều các nhiệm vụ khác nhau cần thực hiện, mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ trong mối quan hệ tương tác giữa chúng hình thành nên kết quả chung của dự án. - Dự án có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn.
Không có dự án nào kéo dài mãi mãi, có dự án hoàn thành trong thời gian rất ngắn, một vài tháng, cũng có dự án để hoàn thành phải mất hàng chục năm,… nhưng dự án nào cũng có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án sẽ được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản trị dự án khi đó giải tán. - Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc. Kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao.
Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại và luôn luôn khác biệt nhau một cách tương đối. - Dự án sử dụng các nguồn lực có giới hạn: Mọi dự án đều bị giới hạn bởi các nguồn lực về nhân lực, nguồn vốn và thời gian nhất định.