mở đầu trình bày lý do cần thiết của luận văn, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và bố cục đề tài. 7 Chương 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Chương 2 nhằm hệ thống cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu trước đây về tiến độ thực hiện dự án. Đồng thời một mô hình lý thuyết với các giả thiết cũng được xây dựng.1 Khung lý thuyết về dự án đầu tư xây dựng 2.1 Dự án đầu tư PMBOK (2004) thì dự án là một nỗ lực tạm thời đuợc thực hiện để tạo ra một sản phẩm, dịch vụ hoặc kết quả duy nhất. Từ Quang Phuơng (2005) giáo trình Quản lý dự án đầu tư thì dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc một dịch vụ duy nhất.
Luật đầu tư số 67/2014/QH13 đuợc Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 xác định: Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Luật xây dựng số 50/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/6/2014 xác định: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”. Từ các định nghĩa nêu trên có thể rút ra những đặc điểm của một dự án phải cần đó là thời gian thực hiện của dự án phải được ấn định trước bao gồm thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc.
Ngoài ra sản phẩm, hay dịch vụ cuối cùng của một dự án phải là duy nhất, dự án không mang tính chất lặp đi lặp lại.2 Đầu tư Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng. Hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Quy định về công tác thiết kế dự án luới điện cấp điện áp 110kV-500kV theo quyết định số 1289/QĐ-EVN ngày 1/11/2017 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, nêu dự án là các dự án/công trình đuờng dây tải điện và trạm biến áp cấp điện áp đến 500kV do EVN và các đơn vị thuộc EVN làm chủ đầu tư.3 Tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng Tiến độ thực hiện dự án xây dựng được đo bằng thời gian thực tế hoàn thành một dự án đầu tư xây dựng dự án tính từ khi có chủ trương đầu tư đến khi nghiệm thu bàn giao, đưa vào sử dụng. Tiến độ thi công thường được xem như là văn bản pháp lý giữa Nhà thầu thi công cho những cam kết của họ với Chủ đầu tư theo hợp đồng ký kết giữa hai bên.
Bởi lẽ tiến độ thi công là một công cụ để Chủ đầu đo lường và đánh giá tốc độ thực thi các công việc của dự án. Dựa vào các mốc hoàn thành công việc nói trên, Chủ đầu tư sẽ đánh giá là tiến độ dự án nhanh, đạt hay bị chậm so với kế hoạch. Tuỳ vào giai đoạn của dự án mà tiến độ thi công sẽ có các chức năng khác nhau. Ở giai đoạn dự án chưa diễn ra thì tiến độ thi công có chức năng là lập kế hoạch và tổ chức thực hiện.
Ở giai đoạn dự án đang chạy thì tiến độ thi công có chức năng là theo dõi và giám sát kế hoạch. Nghị định số 59/2015/NĐ-CP được Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/6/2015 xác định trình tự đầu tư xây dựng có 03 giai đoạn gồm: Giai đoạn chuẩn bị dự án, Giai đoạn thực hiện dự án, Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng. 9 Vòng đời của một dự án ĐTXD bao gồm: Nhu cầu thị truờng; Đề xuất ý tuởng và nghiên cứu khả thi; Thiết kế kỹ thuật; Mua sắm và xây dựng; Bắt đầu sử dụng; Hoạt động và bảo duỡng; Xử lý sản phẩm. Ban QLDA Luới điện TP Hồ Chí Minh thực hiện quản lý tiến độ thực hiện dự án luới điện 110kV-220kV trong suốt dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án đến khi kết thúc dự án, cụ thể chi tiết bảng tiến độ dự án đuờng dây 220kV Cát Lái - Tân Cảng (phụ lục 12) 2.4 Hiệu quả đầu tư Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế - xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định.
Các công trình luới điện đẩy nhanh tiến độ thì mang lại hiệu quả đầu tư: đáp ứng nhu cầu phụ tải (hoặc truyền tải công suất và điện năng); giảm tổn thất công suất và điện năng trong hệ thống; sử dụng linh hoạt các nguồn giảm chi phí của hệ thống điện; nâng cao độ tin cậy an toàn cung cấp điện; cải thiện chất lượng điện năng. Hiệu quả đầu tư các dự án luới điện 110kV-220kV đuợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu: IRR và NPV.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 2. Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Larsen J. (2015) đã nghiên cứu 26 yếu tố ảnh hưởng đến độ trễ tiến độ, chi phí vượt mức và mức chất lượng trong các dự án xây dựng công cộng, kết quả đã đưa ra năm yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến của sự chậm trễ được xếp hạng từ cao đến thấp là: (1) không ổn định hoặc thiếu kinh phí dự án, (2) sự chậm trễ hoặc thời gian xử lý dài do các cơ quan khác gây ra, (3) không ổn định hoặc thiếu kế hoạch dự án, (4) lỗi hoặc thiếu sót trong công việc xây dựng và (5) thiếu xác định nhu cầu.
10 Nghiên cứu của Long Le-Hoai, Young Dai Lee và Jun Yong Lee (2008), đã nghiên cứu 26 yếu tố về sự chậm trễ và vượt chi phí ở Việt Nam các dự án xây dựng lớn: So sánh với các quốc gia được chọn khác đã chỉ ra các yếu tố ảnh huởng đến thời gian và chi phí một số dự án xây dựng quy mô lớn ở Việt Nam. Kỹ thuật phân tích nhân tố đã được áp dụng để phân loại các nguyên nhân, dẫn đến 7 yếu tố: Chậm và Thiếu ràng buộc (DC1); Không đủ năng lực (DC2); Thiết kế (DC3); Thị trường và Ước tính (DC4); Khả năng tài chính (DC5); Chính phủ (DC6); và Công nhân (DC7), kết quả: (1) quản lý và giám sát trang công truờng yếu kém, (2) Trợ giúp quản lý dự án yếu kém, (3) khó khăn tài chính của chủ sở hữu,(4) khó khăn tài chính của nhà thầu; (5) Thiết kế bị thay đổi là năm nguyên nhân thường xuyên nhất, nghiêm trọng và quan trọng. Nghiên cứu của Kamrul Ahsan a,*, Indra Gunawan b (2010) về phân tích chi phí và tiến độ thực hiện các dự án phát triển quốc tế, nghiên cứu thực nghiệm, kiểm tra các yếu tố dự án phát triển quốc tế (ID) về tiến độ thực hiện và chi phí và các lý do chính cho kết quả dự án kém. Phân tích các dự án tài trợ của bốn quốc gia ở Châu Á: Bangladesh, China, India, Thailand, kết quả chỉ ra các nguyên nhân chính của sự chậm trễ của dự án được ghi nhận là thời gian dài của hợp đồng, mua sắm, công trình dân dụng và thu hồi đất, và tuyển dụng tư vấn.
Nguyên nhân quan trọng hơn của sự chậm trễ dự án có thể được quy cho thiên tai và quan liêu của nước chủ nhà. Các lý do chính của chi phí vượt mức được phân loại là mất giá đồng nội tệ, giá đấu thầu cạnh tranh, giá thầu ước tính thấp hơn và ngân sách dự phòng lớn.2 Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Trần Quang Phú (2016) đã nghiên cứu 129 mẫu ,5 nhân tố (P1) cơ chế, chính sách và hệ thống văn bản pháp luật (VBPL), (P2) năng lực của Chủ đầu tư, (P3) hệ thống thông tin dự án, (P4) môi trường tác động bên ngoài, (P5) năng lực của các nhà thầu, 21 thang đo, kết quả phân tích đã chỉ ra các nhân tố về cơ chế, chính sách và các văn bản pháp luật trong đầu tư xây dựng, năng lực của chủ đầu tư và những thông tin đảm bảo sự công khai minh bạch của dự án tác động mạnh đến 11 tiến độ thực hiện dự án. Điều kiện địa hình sông nước với địa chất phức tạp và năng lực của các nhà thầu cũng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án. P1 Cơ chế, P2 Tiến độ chính sách Năng lực P3 thực hiện và hệ thống của Chủ P4 dự án văn bản Hệ thống đầu tư thông tin pháp luật Môi trường P5 dự án tác động Năng lực bên ngoài của các nhà thầu Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu của Trần Quang Phú (2016) Nguồn: tác giả tổng hợp Nghiên cứu của Vũ Quang Lãm (2015) đã nghiên cứu 214 mẫu, 5 nhóm yếu tố (H1) chủ đầu tư; (H2) nhà thầu; (H3) tư vấn; (H4) ngoại vi; (H5) pháp lý đối với các dự án đầu tư công tại Việt Nam, kết quả đã đưa ra 4 nguyên nhân quan trọng nhất của tình trạng chậm trễ và vượt dự toán của các dự án đầu tư công tại VN là “Yếu kém trong quản lý dự án của chủ đầu tư”,“Yếu kém của nhà thầu hoặc tư vấn”, “Yếu tố ngoại vi và yếu tố khó khăn về tài chính” đã được tác giả nhận diện và đánh giá mức độ ảnh hưởng.2 Mô hình nghiên cứu của Vũ Quang Lãm (2015) Nguồn: tác giả tổng hợp 2.