phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc tại Ban Quản lý dự án huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng vốn ngân sách Nhà nƣớc tại Ban Quản lý dự án huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.
Cơ sở lý luận về công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nƣớc 1. Dự án đầu tƣ xây dựng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nƣớc 1. Khái niệm * Khái niệm dự án đầu tư - Theo Ngân hàng thế giới (WB): “Dự án đầu tƣ là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan đến nhau đƣợc hoạch định nhằm đạt đƣợc mục tiêu nào đó trong thời gian nhất định”. - Theo Nghị định 42/CP ngày 16/07/1996 của Chính phủ về việc ban hành điều lệ quản lý đầu tƣ và xây dựng thì: “Dự án đầu tƣ là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng, hoặc cải tạo những đối tƣợng nhất định nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng về số lƣợng, cải tiến hoặc nâng cao chất lƣợng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong khoảng thời gian xác định”.
- Theo Nghị định 88/CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về việc ban hành quy chế đấu thấu thì: “Dự án là tập hợp những đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc, mục tiêu hoặc yêu cầu nào đó”. - Theo Luật đầu tƣ năm 2005 thì “Dự án đầu tƣ là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tƣ trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. - Theo Luật đầu tƣ năm 2014 thì “Dự án đầu tƣ là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tƣ kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Theo nghĩa chung nhất có thể định nghĩa dự án đầu tƣ nhƣ sau: Dự án đầu tư là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra thực thể mới.
7 Dự án đầu tƣ có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: + Về mặt hình thức: Dự án đầu tƣ là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. + Trên góc độ quản lý: Dự án đầu tƣ là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài. + Trên góc độ kế hoạch: Dự án đầu tƣ là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tƣ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tƣ và tài trợ. + Về mặt nội dung, dự án đầu tƣ là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau đƣợc kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
* Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Tại Điều 3, Luật Xây dựng đƣợc Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 13 thông qua ngày 18 tháng 06 năm 2014 thì dự án đầu tƣ xây dựng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”. Dự án đầu tƣ xây dựng bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. - Phần thuyết minh đƣợc lập tuỳ theo loại dự án đầu tƣ xây dựng, bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Mục tiêu, địa điểm, quy mô, công suất, công nghệ, các giải pháp kinh tế - kỹ thuật, nguồn vốn và tổng mức đầu tƣ, chủ đầu tƣ và hình thức quản lý dự án, hình thức đầu tƣ, thời gian, hiệu quả, phòng, chống cháy, nổ, đánh giá tác động môi trƣờng.
- Phần thiết kế cơ sở đƣợc lập phải phù hợp với từng dự án đầu tƣ xây dựng, bao gồm thuyết minh và các bản vẽ thể hiện đƣợc các giải pháp về kiến trúc; kích thƣớc, kết cấu chính; mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng; các giải pháp kỹ thuật, giải pháp 8 về xây dựng; công nghệ, trang thiết bị công trình, chủng loại vật liệu xây dựng chủ yếu đƣợc sử dụng để xây dựng công trình. * Khái niệm dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nƣớc đƣợc hiểu là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc trong dự toán đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Từ các khái niệm về dự án đầu tƣ xây dựng và khái niệm ngân sách Nhà nƣớc nêu trên, có thể hiểu: “Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là dự án được thực hiện bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước mà nguồn này hình thành từ các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật và được phân bổ cho các hoạt động nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”. Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc khác với các dự án đầu tƣ khác không sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc là các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc chủ yếu là những dự án đầu tƣ vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh không có khả năng thu hồi vốn.
Những lĩnh vực mà các nhà đầu tƣ tƣ nhân không có khả năng đầu tƣ. Mục tiêu của dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc là hƣớng tới mục tiêu chung của toàn xã hội nên đối tƣợng thụ hƣởng của những dự án này có quy mô lớn. Đặc biệt là những dự án trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng của một đất nƣớc thì đối tƣợng thụ hƣởng ở đây là toàn bộ ngƣời dân trong đất nƣớc đó và cả những tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài sống và làm việc trên lãnh thổ nƣớc đó. Theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng 07 năm 1999 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đầu tƣ và xây dựng thì các dự án đầu tƣ xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc bao gồm: + Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh không có khả năng thu hồi vốn và đƣợc quản lý sử dụng theo phân cấp về chi ngân sách Nhà nƣớc cho đầu tƣ phát triển.
9 + Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tƣ vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật. + Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ cho phép. + Cho vay của Chính phủ để đầu tƣ phát triển. + Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nƣớc để lại cho doanh nghiệp Nhà nƣớc để đầu tƣ.
Đặc điểm sản phẩm và thành phần của dự án đầu tư xây dựng * Đặc điểm sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng - Sản phẩm xây dựng mang tính cá biệt, đơn chiếc Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt hàng của ngƣời mua (chủ đầu tƣ), vào điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng. Sản phẩm xây dựng mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cấu tạo và phƣơng pháp sản xuất, chế tạo. Vì vậy, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy trình quy phạm, công nghệ thi công rất đa dạng và phức tạp. - Sản phẩm được xây dựng và sử dụng tại chỗ Sản phẩm xây dựng là các công trình đƣợc xây dựng và sử dụng tại chỗ.
Vốn đầu tƣ xây dựng lớn, thời gian xây dựng cũng nhƣ thời gian sử dụng lâu dài. Vì tính chất này nên khi tiến hành phải chú ý ngay từ khâu quy hoạch, lập dự án, chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại hoặc sửa chữa dẫn đến không đảm bảo thời gian hoàn thành công trình, gây thiệt hại cho chủ đầu tƣ, nhà thầu và giảm tuổi thọ công trình. - Sản phẩm xây dựng có kích thước và trọng lượng lớn Sản phẩm xây dựng thƣờng có kích thƣớc và trọng lƣợng lớn. Số lƣợng, chủng loại vật tƣ, thiết bị máy thi công, và hao phí lao động cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, luôn thay đổi theo tiến độ thi công.
Công tác giám sát chất lƣợng của nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị thi công gặp nhiều khó khăn. Giá thành sản phẩm xây dựng rất phức tạp, thƣờng xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kì gây khó khăn cho công tác khống chế giá thành xây dựng.