Mở đầu Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của Quỹ đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Chƣơng 2. Thực trạng nguồn tài chính phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học của ngƣời học trong Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên Chƣơng 3. Đề xuất mô hình Quỹ đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên Kết luận và Khuyến nghị z 11 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUỸ ĐẦU TƢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN, HỌC VIÊN CAO HỌC VÀ NGHIÊN CỨU SINH 1. Các khái niệm liên quan đến nghiên cứu khoa học trong trƣờng đại học 1. Đại học định hướng nghiên cứu Theo Luật Giáo dục Đại học (Luật số 08/2012/QH2013) định nghĩa: “Đại học là cơ s giáo ục đại học ao g m tổ h p các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo ục đại học” [14; điều 4]. Trong đó, “Cơ s giáo ục đại học đư c phân tầng thành: a) Cơ s giáo ục đại học định hướng nghiên cứu; b) Cơ s giáo ục đại học định hướng ứng ụng; c) Cơ s giáo ục đại học định hướng thực hành” [14; điều 9].
Theo “định nghĩa xuất phát” về đại học nghiên cứu của TS. Phạm Thị Ly, “đại học nghiên cứu là một trường đại học đặt trọng tâm vào hoạt động nghiên cứu và đào tạo sau đại học, là nơi quy tụ và đào tạo giới nghiên cứu chuyên nghiệp cũng như có những kết quả nghiên cứu đóng góp cho việc phát triển tri thức của nhân loại.TSKH Trƣơng Quang Học, “khái niệm đại học nghiên cứu đư c nâng cao hơn theo triết lý giáo ục là “học để làm những điều chưa học, học cách học suốt đời. Muốn vậy, người thầy không những phải nghiên cứu giỏi mà còn phải có cách đào tạo giỏi - đào tạo qua nghiên cứu và cho nghiên cứu. Nói một cách khái quát, trong đại học nghiên cứu, hàm lư ng NCKH rất cao trong mọi lĩnh vực hoạt động.24] Trong bài “Mƣời đặc điểm của Trƣờng Đại học nghiên cứu hiện đại” [12], “Các trường đại học nghiên cứu đư c định nghĩa i những cam kết nghiêm túc z 12 và xuyên suốt của họ với hoạt động nghiên cứu khoa học; i sự ưu tú, i ề rộng và khối lư ng những kết quả nghiên cứu của họ; và i cách thức văn hóa khoa học thẩm thấu, lan tỏa trong mọi hoạt động của họ, từ giảng ạy, nghiên cứu đến gắn kết với giới oanh nghiệp, với chính phủ, và với cộng đ ng xã hội.
Việc đào tạo ậc đại học các trường đại học nghiên cứu đư c hư ng l i to lớn từ những cơ hội mà nhà trường mang lại cho sinh viên trong những lớp học hay phòng thí nghiệm với các giáo sư và nghiên cứu sinh đang làm việc tuyến đầu của tri thức. Đào tạo sau đại học các trường đại học nghiên cứu đư c làm cho phong phú thêm nhờ sự gắn kết trực tiếp và mạnh mẽ của các nghiên cứu sinh trong việc thực hiện nghiên cứu, còn chất lư ng và năng suất của hoạt động nghiên cứu trong trường thì đư c l i rất nhiều nhờ sự sáng tạo và năng lư ng của các nghiên cứu sinh. Các trường đại học nghiên cứu thường chỉ là số ít trong hệ thống giáo ục đại học của mỗi nước, nhưng ao giờ cũng chiếm một phần đáng kể thành quả nghiên cứu của quốc gia”. Đồng thời, “Trường đại học nghiên cứu có vai trò đặc iệt trong việc uy trì sự ưu tú, tạo ra những kiến thức mới, ý tư ng mới, sáng tạo mới nhằm ẫn ắt tiến ộ xã hội cũng như thúc đẩy sự giàu mạnh của quốc gia”.2 Tác giả có cùng quan điểm với định nghĩa về đại học nghiên cứu của TS.
Phạm Thị Ly. Nhƣ vậy, đại học định hƣớng nghiên cứu là đại học có chiến lƣợc phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu, hiện tại đang trên con đƣờng hoàn thiện để dần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của một đại học nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện ản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm iến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người.vn: Phạm Thị Ly, Mười đặc điểm của trường đại học nghiên cứu hiện đại, 23.2013 z 13 Về mặt thao tác, có thể định nghĩa, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tư ng cần khám phá” [7; tr. “Đặc điểm chung nhất của NCKH là sự tìm tòi những sự vật, hiện tư ng mà khoa học chưa hề iết đến.
Đặc điểm này ẫn đến hàng loạt những đặc điểm khác nhau của nghiên cứu khoa học, mà người nghiên cứu cần quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu” [7; tr.36], đó là: + Tính mới; + Tính tin cậy; + Tính thông tin; + Tính khách quan; + Tính rủi ro; + Tính kế thừa; + Tính phi kinh tế; + Tính cá nhân;” [7; tr.36-38] “NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt đư c từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về ản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ng i trên ghế nhà trường”3 [22]. Tác giả đồng ý với định nghĩa về NCKH của TS.
Đặc biệt, theo tác giả, hoạt động NCKH trong trƣờng đại học định hƣớng nghiên cứu phải đƣợc xuyên suốt trong quá trình giảng dạy đại học và sau đại học của nhà trƣờng.vn/research/thong-tin-khoa-hoc/181-khai-niem-khoa-hoc-va-nghien-cuu-khoa-hoc, 26. Vai trò của nghiên cứu khoa học đối với người học 1. Nghiên cứu khoa học sinh viên “Nghiên cứu khoa học sinh viên” là cụm từ để chỉ hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên hay nói cách khác, chính là sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học. “Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận ụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập và trong thực tiễn, trong đó sinh viên bước đầu vận ụng một cách tổng h p những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học o thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, m rộng và hoàn thiện vốn hiểu iết của mình”4 [8].
Đây là vấn đề không còn mới, ngày 30 tháng 3 năm 2000, nguyên Bộ Trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh Hiển đã ký Quyết định số 08/2000/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy chế về nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trƣờng đại học và cao đẳng, trong đó nêu rõ “Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một phần của kế hoạch khoa học và công nghệ của cơ s. Việc triển khai và quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên đư c thực hiện theo những quy định hiện hành về hoạt động khoa học và công nghệ” [2; điều 4], đƣa nghiên cứu khoa học sinh viên trở thành một hoạt động thƣờng niên bắt buộc đối với các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng. Về mặt cấu trúc, hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên nằm ngay trong hoạt động đào tạo của các trƣờng. Nó bắt nguồn từ những việc nhỏ nhƣ sinh viên tự tìm đọc tài liệu, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, trao đổi với nhau và với giảng viên ở các diễn đàn chính thức và không chính thức đến việc thực hiện các đề án môn học, luận văn tốt nghiệp hay cao hơn là các đề tài nghiên cứu độc lập.
Một phƣơng pháp khác là các hội thảo chuyên môn mini 4 http://donga.vn, Đại học Đông Á, Ý nghĩa hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên, 28.2014 z 15 đƣợc tổ chức định kỳ mở rộng cho mọi thành phần (giảng viên, sinh viên, những ngƣời quan tâm), trong đó nội dung là việc báo cáo các hƣớng nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, dự án nghiên cứu, hay trao đổi bình luận các bài báo khoa học cũng có thể nằm trong kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên. Các hội thảo này đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành môi trƣờng nghiên cứu, trao đổi chuyên môn, là cơ hội cho sinh viên tích lũy kinh nghiệm và phƣơng pháp nghiên cứu từ những ngƣời đi trƣớc. Nghiên cứu khoa học trong học viên cao học và nghiên cứu sinh Đào tạo thạc sĩ cần đạt đƣợc mục tiêu là Thạc sĩ phải có kiến thức chuyên môn vững vàng; có năng lực thực hành và khả năng thích ứng cao trƣớc sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và kinh tế; có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề thuộc chuyên ngành đƣợc đào tạo. Tiến sĩ đƣợc đào tạo ra phải đạt mục tiêu là có trình độ cao về lý thuyết, thực hành; có năng lực sáng tạo, độc lập nghiên cứu; có khả năng hƣớng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn; Phát hiện và giải quyết đƣợc những vấn đề khoa học và công nghệ.
Nhƣ vậy, có thể thấy NCKH là hoạt động gắn liền với các hệ đào tạo sau đại học, nhờ có NCKH các học viên mới có cơ hội nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn. Quỹ đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của ngƣời học 1. Khái niệm “quỹ” Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về “quỹ” nhƣ sau [23]: Số tiền dành riêng cho những khoản chi tiêu nhất định (ví dụ: Quỹ tiền lƣơng, Quỹ phúc lợi) Tổ chức làm nơi nhận gửi và chi trả tiền (Quỹ tiết kiệm, Quỹ tín dụng) 5 Theo Vũ Thế Dũng, http://oisp.vn, Nghiên cứu khoa học trong sinh viên: Cần cách tiếp cận mới, 07.2009 z 16 Theo Từ điển Tiếng Việt của Hồ Ngọc Đức [9]: “quỹ” là số tiền bạc thu góp lại dùng để làm gì đó. Nhƣ vậy, thông thƣờng “quỹ” đƣợc hiểu ở hai dạng: hoặc là khoản tiền hoặc là một tổ chức độc lập kinh doanh (hoặc không kinh doanh) tiền.