CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG 1. Đặc điểm hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương 1. Định nghĩa, nguyên tắc hoạt động Định nghĩa Quỹ ĐTPT địa phương là một tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương (chính quyền cấp tỉnh hoặc thành phố) nhằm thu hút các nguồn lực tài chính để thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương (Trích Nghị định 138/2007/NĐ-CP của Chính phủ, 2007, Điều 3). Quỹ ĐTPT địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Quỹ ĐTPT địa phương được Chính phủ và chính quyền địa phương xác định là một công cụ quan trọng và cần thiết để cân đối và huy động các nguồn vốn bổ sung vào nguồn tài chính còn hạn hẹp của ngân sách địa phương. Việc thành lập và hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân cùng tham gia đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng mang tính chất kinh tế xã hội quan trọng tại địa phương. Nguyên tắc hoạt động Theo Điều 1, khoản 11 của Nghị định 37/2013/NĐ-CP của Chính phủ thì: “Quỹ ĐTPT địa phương hoạt động theo mô hình ngân hàng chính sách, thực hiện nguyên tắc tự chủ về tài chính, không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo an toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí, tự chịu trách nhiệm về những rủi ro trong quá trình hoạt động và chịu sự chi phối nhất định của chính quyền e 8 địa phương”. Đặc điểm hoạt động - Là loại định chế tài chính do chính quyền các địa phương sở hữu 100% vốn, chưa có sự tham gia của công chúng đầu tư như các loại hình Quỹ đầu tư khác.
- Quỹ ĐTPT địa phương hoạt động không đặt mục tiêu lợi nhuận như những ngân hàng thương mại. - Hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND cấp tỉnh và có mối liên hệ chặt chẽ với các Sở, ngành nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương. - Ngoài nguồn vốn NSNN, các Quỹ ĐTPT địa phương còn có thể huy động bằng các hình thức huy động vốn khác như kêu gọi các tổ chức, cá nhân cùng hợp vốn để đầu tư, phát hành trái phiếu để huy động vốn. Chức năng hoạt động Các chức năng hoạt động chính của Quỹ ĐTPT địa phương theo quy định của Nghị định 138/2007/NĐ-CP ngày 28/8/2007 của Chính phủ bao gồm: huy động vốn, đầu tư trực tiếp, cho vay đầu tư, góp vốn thành lập doanh nghiệp, ủy thác và nhận ủy thác.
- Huy động vốn: là hoạt động trong đó Quỹ ĐTPT địa phương thực hiện huy động các nguồn vốn trung và dài hạn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư cho các đối tượng dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Các hình thức huy động nguồn vốn, bao gồm: vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước thông qua hợp đồng vay vốn; phát hành trái phiếu; các hình thức huy động khác theo quy định của pháp luật như: nguồn vốn góp ban đầu của các tổ chức, nguồn tài trợ từ thiện… Giới hạn huy động vốn tối đa bằng 6 lần vốn chủ sở hữu của Quỹ e 9 ĐTPT địa phương. - Đầu tư trực tiếp: là hoạt động trong đó Quỹ ĐTPT địa phương sử dụng nguồn vốn hoạt động của mình để đầu tư trực tiếp vào các dự án thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ưu tiên phát triển của từng địa phương. Các hình thức đầu tư trực tiếp mà Quỹ ĐTPT địa phương có thể lựa chọn, bao gồm: đầu tư theo các hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC); hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT); hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT); tìm kiếm dự án, thực hiện các công việc chuẩn bị đầu tư sau đó thực hiện đầu tư, hoặc chuyển nhượng lại dự án cho chủ đầu tư khác thực hiện đầu tư.
Việc tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp phải tuân theo chu trình, bao gồm các giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư (nghiên cứu cơ hội đầu tư; nghiên cứu tiền khả thi, khả thi; thẩm định để ra quyết định đầu tư); Thực hiện đầu tư (xin giao đất hoặc thuê đất, xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên), thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, đàm phán ký kết các hợp đồng, thiết kế và lập dự toán, thi công, lắp đặt, thử nghiệm.); Vận hành kết quả đầu tư. - Cho vay đầu tư: là hoạt động trong đó Quỹ ĐTPT địa phương sử dụng nguồn vốn hoạt động của mình để cho vay các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ưu tiên phát triển của từng địa phương. Các phương thức cho vay đầu tư mà Quỹ ĐTPT địa phương áp dụng: cho vay theo dự án đầu tư; nhận ủy thác cho vay; cho vay hợp vốn. Đối tượng cho vay đầu tư là các dự án đầu tư thuộc danh mục các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ưu tiên phát triển của từng địa phương.
Hoạt động cho vay đầu tư được thực hiện theo trình tự các bước gồm: tiếp nhận và thẩm định (bao gồm thẩm định năng lực chủ đầu tư và thẩm định dự án); Quyết định cho vay; Giải ngân và giám sát tín dụng; Thu hồi nợ/xử lý rủi ro. e 10 Nguồn vốn để cho vay đầu tư bao gồm: nguồn vốn điều lệ và nguồn vốn huy động của Quỹ ĐTPT địa phương. - Góp vốn thành lập doanh nghiệp: là hoạt động trong đó Quỹ ĐTPT địa phương sử dụng nguồn vốn hoạt động của mình để góp vốn thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động đầu tư trực tiếp vào các công trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ưu tiên phát triển của từng địa phương. - Nhận ủy thác và ủy thác: + Nhận ủy thác: là hoạt động trong đó Quỹ ĐTPT địa phương nhận ủy thác quản lý nguồn vốn đầu tư, cho vay đầu tư và thu hồi nợ, cấp phát vốn đầu tư cho các công trình, dự án từ ngân sách nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, các doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; quản lý hoạt động các Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ phát triển nhà ở, Quỹ phát triển đất, Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã và các Quỹ tài chính nhà nước của địa phương do UBND cấp tỉnh thành lập; thực hiện phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn cho ngân sách địa phương.
+ Ủy thác: là hoạt động Quỹ ĐTPT địa phương được ủy thác cho các tổ chức tín dụng và Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện cho vay và thu hồi nợ một số dự án đầu tư. Định nghĩa, nguyên tắc tổ chức kế toán 1. Định nghĩa tổ chức kế toán Thực tiễn đã chứng minh kế toán là nhu cầu tất yếu khách quan của mọi hình thái kinh tế - xã hội có nền sản xuất hàng hóa, là một trong những công cụ quan trọng phục vụ quá trình quản lý kinh tế, gắn liền với mọi hoạt động quản lý. Như vậy, kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý của đơn vị.
Tuy nhiên, vai trò quan trọng của kế toán chỉ được phát huy khi đơn vị kế toán tổ chức công tác kế toán khoa học và hiệu quả. e 11 Theo tác giả Nguyễn Thị Đông (2007): “Tổ chức kế toán được hiểu như một hệ thống các yếu tố cấu thành gồm: tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán, tổ chức vận dụng các chế độ,…mối liên hệ và sự tác động giữa các yếu tố đó với mục đích đảm bảo các điều kiện cho việc phát huy tối đa chức năng của hệ thống các yếu tố đó”. Theo Quốc Hội (2015), Luật kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015, tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản lữu giữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán. Dựa vào quy định chuẩn mực kế toán Việt Nam thì: “Tổ chức công tác kế toán là một nội dung quan trọng trong tổ chức công tác quản lý ở doanh nghiệp.
Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế, tài chính, do đó công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác quản lý, đồng thời nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu khác nhau của các đối tượng trực tiếp và gián tiếp”. Ngoài ra tổ chức kế toán trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung của khoa học tổ chức, còn phải gắn liền với đặc thù của đơn vị, kế toán vừa là môn khoa học, vừa là môn nghệ thuật ứng dụng để việc tổ chức đảm bảo được tính linh hoạt hiệu quả và đồng bộ nhằm đạt tới mục tiêu chung là tăng cường được hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị. Trên cơ sở các quan điểm trên, luận văn tiếp cận tổ chức công tác kế toán theo hướng tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình hoạt động, cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị nhằm phục vụ cho nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng bên trong lẫn bên ngoài đơn vị. Tổ chức công tác kế toán trong hệ e 12 thống các Quỹ ĐTPT địa phương vừa phải đảm bảo với đặc điểm hoạt động của các Quỹ ĐTPT địa phương vừa phải tuân thủ theo khuôn khổ pháp lý chung.