CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 1.1 Tổng quan về Quỹ đầu tư phát triển: 1.1 Khái niệm về Quỹ đầu tư phát triển: Căn cứ Điều 3 Nghị định 138/2007/NĐ-CP ngày 28/08/2007 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương có định nghĩa như sau: ‘‘Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương; thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển. Quỹ Đầu tư phát triển có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam”. Quỹ ĐTPT địa phương là công cụ tài chính để huy động các nguồn lực tài chính từ các thành phần kinh tế, từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phục vụ cho mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hô ̣i đã được Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyê ̣t. Quỹ ĐTPT địa phương được thành lập trên địa bàn từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phù hợp với cơ chế phân cấp về quản lý kinh tế và xu hướng ngày càng mở rộng quyền hạn, trách nhiệm để tăng tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong quản lý kinh tế.
Quỹ ĐTPT địa phương là công cụ để thực hiện chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội địa phương.2 Đặc điểm của Quỹ đầu tư phát triển: Là một công cụ tài chính và đầu tư của UBND tỉnh, thành phố trực thuô ̣c trung ương, Quỹ thực hiê ̣n vai trò huy đô ̣ng nguồ n vố n trung, dài hạn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư cho những công trình trọng điểm, những dự án mục tiêu phát triển kế t cấ u cơ sở hạ tầng của điạ phương như: giao thông, cấp nước, hạ tầng các khu công nghiệp, khu đô thị mới… Đặc điểm của Quỹ ĐTPT địa phương được thể hiện: a/ Đa dạng hóa các phương thức huy động vốn phù hợp với nhu cầ u về đầ u tư phát triể n của đi ̣a phương Tạo ra cơ chế linh hoạt để huy động và khai thác các nguồn vốn cho ĐTPT. 8 Khai thác và huy động nguồn vốn nhàn rỗi thuộc các thành phần kinh tế, các tổ chức kinh tế , xã hô ̣i, khu dân cư, vốn viện trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước để sử dụng vào mu ̣c đích đầu tư có hiệu quả cho các dự án kế t cấ u ha ̣ tầ ng cơ sở phát triển kinh tế - xã hô ̣i của địa phương; Tạo tiền đề và là công cụ quan trọng cho việc thu hút nguồ n vố n đầu tư tại địa bàn. Đóng vai trò đầ u mố i khởi xướng, dẫn dắt hoạt động đầu tư thông qua các hình thức đầu tư đa dạng như: hợp vốn cho vay, hợp vố n đầ u tư, góp vốn thành lập doanh nghiê ̣p để huy động các nguồ n vốn phục vụ cho mục tiêu đầu tư… Trong đó, nguồn vốn của Quỹ ĐTPT được sử dụng là nguồn “vốn mồi” để thu hút sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh, góp phần giảm áp lực về vốn đầu tư từ Ngân sách điạ phương, nâng cao hiệu quả, có khả năng thu hồ i vố n đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hô ̣i của địa phương; Hoạt động sử du ̣ng vốn đa dạng của Quỹ thực hiê ̣n thông qua nhiề u hình thức như: đầ u tư trực tiế p, cho vay đầ u tư, hợp vốn đầu tư, tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp, tham gia đầu tư cổ phần tại các doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đầu tư của Quy.̃ Với uy tín của Quỹ sẽ thu hút được sự quan tâm của các nhà đầ u tư, các TCTD, ngân hàng tham gia đầ u tư vào các dự án đầu tư có tỷ suất sinh lời ở mức vừa phải nhưng la ̣i cấp thiết cho phát triển kinh tế - xã hô ̣i của địa phương. Những hoa ̣t đô ̣ng như vâ ̣y sẽ góp phầ n xã hội hoá hoạt động đầu tư của địa phương, thu hút nhiều nguồn vốn của dân cư, tổ chức tham gia đầu tư các mục tiêu phát triển của địa bàn.
Đây chính là đặc điểm nổi bật của Quỹ ĐTPT so với các kênh huy động khác; b/ Bổ sung vào kênh tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước khi kênh này thu hẹp dần cho phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế Với lộ trình từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, kênh tín dụng ĐTPT của Nhà nước thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng phát triể n Viê ̣t Nam sẽ từng bước được thu hẹp dần. Hoạt động của Ngân hàng phát triể n sẽ chuyển từ hỗ trợ trực tiếp thông qua các dự án cho vay ưu đãi sang hỗ trợ gián tiếp thông qua hình thức hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hay bảo lãnh tín dụng đầu tư. Do đó, địa phương sẽ không thể tận dụng kênh cung cấp vốn này cho các hoạt động đầ u tư phát triể n trên 9 địa bàn. c/ Góp phầ n phát triể n thi ̣ trường vố n Viê ̣c tham gia góp vố n đầ u tư mua cổ phầ n của các công ty và hoa ̣t đô ̣ng huy đô ̣ng vố n của Quỹ ĐTPT theo hình thức phát hành trái phiế u doanh nghiê ̣p, trái phiế u đầ u tư, cổ phiế u trong tương lai sẽ góp phầ n phát triể n hoa ̣t đô ̣ng của thị trường vốn.
Đồ ng thời sự phát triể n của thị trường vốn cũng sẽ có tác đô ̣ng ngươc̣ la ̣i đố i với hoa ̣t đô ̣ng của Quỹ ĐTPT, làm cho các tài sản của Quỹ có tính thanh khoản cao hơn và do vâ ̣y khả năng huy đô ̣ng vố n của Quỹ trên thị trường vốn sẽ thuâ ̣n lơị hơn. d/ Sử dụng vốn có hiệu quả Đă ̣c thù hoa ̣t đô ̣ng của Quỹ ĐTPT là gắ n với chương trình, mu ̣c tiêu phát triển kinh tế - xã hô ̣i của điạ phương, vừa bám sát các chủ trương, định hướng phát triển của địa phương, vừa phù hơp̣ với nhu cầ u thực tế của nề n kinh tế. Chính lơị thế này sẽ tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả sử du ̣ng vố n của Quỹ ĐTPT. Mă ̣t khác, nế u uy tín của Quỹ ĐTPT trong hoa ̣t đô ̣ng đầ u tư và trên thị trường tài chính được nâng cao, Quỹ có thể trở thành đầ u mố i đinh ̣ hướng đầ u tư và thu hút các thành phầ n trong xã hô ̣i cùng tham gia, và như vâ ̣y hoa ̣t đô ̣ng đầ u tư sẽ ngày càng đươc̣ mở rô ̣ng, phát triể n và có hiê ̣u quả hơn.
Thông qua các hoạt động cho vay, đầu tư trực tiếp, góp vốn liên doanh, liên kết thành lập các tổ chức kinh tế…để đầu tư phát triển các dự án hạ tầng KT-XH, các Quỹ đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư. Đồng thời, chính quyền các địa phương có thêm công cụ tài chính để huy động các nguồn lực tài chính phục vụ cho mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật theo chiến lược phát triển KT-XH đã được thông qua.3 Phân loại Quỹ đầu tư phát triển: Cả nước có khoảng trên 40 Quỹ/loại Quỹ Tài chính nhà nước được thành lập (Trung ương có 27 quỹ/loại quỹ; địa phương có khoảng trên 20 quỹ/loại quỹ). Theo thống kê, các Quỹ TCNN được thành lập theo các mô hình, mục đích, tính chất, 10 phạm vi, quy mô hoạt động rất phong phú và đa dạng. Để xác định được Quỹ ĐTPT, ta nhìn nhận qua các đặc điểm: - Về nguồn vốn chủ sở hữu: Quỹ ĐTPT địa phương là loại định chế tài chính do nhà nước sở hữu 100% vốn.
Vì vậy việc huy động nguồn vốn ban đầu để hình thành Quỹ do ngân sách địa phương đảm bảo. - Về mô hình tổ chức quản lý: Quỹ ĐTPT địa phương tổ chức quản lý theo mô hình tự quản lý, với cơ cấu đầy đủ như một doanh nghiệp, không có sự tham gia của các tổ chức trung gian. Mô hình Quỹ ĐTPT địa phương có những loại hình kinh doanh riêng, khác cơ bản so với các định chế tài chính như Ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, công ty tài chính,. Quỹ ĐTPT địa phương là công cụ của địa phương, trực thuộc địa phương về mặt định hướng và chiến lược phát triển tổng thể, kế hoạch ngắn hạn và dài hạn từ Trung ương về nghiệp vụ hoạt động.
- Về hoạt động chính: Các hoạt động chủ yếu của Quỹ ĐTPT cũng tương tự gần như của các Ngân hàng thương mại như: huy động tiền gửi, phát hành chứng chỉ, đầu tư trực tiếp, đầu tư cho vay bằng nguồn huy động, bằng vốn tự có. tuy nhiên, quy mô hoạt động của các Quỹ ĐTPT địa phương có thể còn rất nhỏ so với các Ngân hàng thương mại. Điểm khác nhau là Quỹ ĐTPT địa phương làm nhiệm vụ hỗ trợ nguồn vốn cho các dự án, cho các doanh nghiệp không đơn thuần là kiếm lợi nhuận mà còn có ý nghĩa cao hơn là tạo động lực thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là nhà đầu tư mở đường dẫn dắt nền kinh tế phát triển. Điểm khác biệt lớn nhất trong các chức năng hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phương là không có chức năng làm dịch vụ thanh toán và huy động ngắn hạn, một thế mạnh tuyệt đối của các ngân hàng thương mại.
Mặt khác, toàn bộ chức năng, nhiệm vụ của Quỹ ĐTPT địa phương chỉ chiếm một bộ phận trong các chức năng của hệ thống các Ngân hàng thương mại. Hiện nay, các Ngân hàng hiện đại trong nước đã triển khai hàng trăm loại hình dịch vụ, gấp hàng chục lần số lượng những nghiệp vụ mà các Quỹ ĐTPT địa phương có thể thực hiện được. Do vậy mà mỗi Quỹ ĐTPT địa phương muốn phát triển thì không thể thực hiện các dịch vụ cạnh 11 tranh với ngân hàng mà phải định hướng vào khả năng phát huy năng lực vượt trội của mình so với các Ngân hàng thương mại.