phần mở đầu, kết luận và các nội dung phụ lục, tài liệu tham khảo. Nội dung chính nghiên cứu của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chi NSNN trên địa bàn thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2020 - 2022. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thời gian tới.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. Khái niệm và đặc điểm của chi ngân sách nhà nƣớc 1. Các khái niệm cơ bản NSNN là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Luật NSNN số 83/2015/QH13 của Việt Nam đã đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/06/2015 khái niệm: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đƣợc dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”.
[14] Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phƣơng thức sản xuất của cộng đồng và Nhà nƣớc của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nƣớc, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN. Theo Điều 6 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP Quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành Luật NSNN [6]: Thứ nhất, NSNN gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng. Thứ hai, Ngân sách địa phƣơng gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phƣơng, trong đó: a.
Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng; b. Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phƣờng, thị trấn; c. Ngân sách các xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). Thứ ba, Nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách thực hiện theo quy định tại Điều 9 Luật NSNN: 5 - Ngân sách trung ƣơng, ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phƣơng đƣợc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể.
- Ngân sách trung ƣơng giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia, hỗ trợ địa phƣơng chƣa cân đối đƣợc ngân sách và hỗ trợ các địa phƣơng theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Luật này. - Ngân sách địa phƣơng đƣợc phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi đƣợc giao. HĐND cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phƣơng phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. - Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp; việc quyết định đầu tƣ các chƣơng trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải bảo đảm trong phạm vi ngân sách theo phân cấp.
- Trƣờng hợp cơ quan quản lý nhà nƣớc thuộc ngân sách cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nƣớc thuộc ngân sách cấp dƣới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải phân bổ và giao dự toán cho cơ quan cấp dƣới đƣợc ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ chi đó. - Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dƣới trên cơ sở bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phƣơng. - Trong thời kỳ ổn định ngân sách: + Không thay đổi tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách; + Hằng năm, căn cứ khả năng cân đối của ngân sách cấp trên, cơ quan có thẩm quyền quyết định tăng thêm số bổ sung cân đối ngân sách từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dƣới so với năm đầu thời kỳ ổn định; 6 + Số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dƣới đƣợc xác định theo nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; khả năng của ngân sách cấp trên và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phƣơng cấp dƣới; + Các địa phƣơng đƣợc sử dụng nguồn tăng thu hằng năm mà ngân sách địa phƣơng đƣợc hƣởng theo phân cấp để tăng chi thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đối với số tăng thu so với dự toán thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật NSNN (2015) [5].
Trƣờng hợp đặc biệt có phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách làm ngân sách địa phƣơng tăng thu lớn thì số tăng thu phải nộp về ngân sách cấp trên. Chính phủ trình Quốc hội, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định thu về ngân sách cấp trên số tăng thu này và thực hiện bổ sung có mục tiêu một phần cho ngân sách cấp dƣới theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40 của Luật này để hỗ trợ đầu tƣ cơ sở hạ tầng ở địa phƣơng theo dự án đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt; + Trƣờng hợp ngân sách địa phƣơng hụt thu so với dự toán do nguyên nhân khách quan thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật này [5]. - Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phƣơng phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phƣơng, thực hiện giảm dần tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên so với tổng chi ngân sách địa phƣơng hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) nộp về ngân sách cấp trên đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách để tăng nguồn lực cho ngân sách cấp trên thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia và phát triển đồng đều giữa các địa phƣơng. - Không đƣợc dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không đƣợc dùng ngân sách của địa phƣơng này để chi cho nhiệm vụ của địa phƣơng khác, trừ các trƣờng hợp sau: 7 + Ngân sách cấp dƣới hỗ trợ cho các đơn vị thuộc cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong trƣờng hợp cần khẩn trƣơng huy động lực lƣợng cấp trên khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và các trƣờng hợp cấp thiết khác để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của địa phƣơng; + Các đơn vị cấp trên quản lý đóng trên địa bàn khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dƣới; + Sử dụng dự phòng ngân sách địa phƣơng để hỗ trợ các địa phƣơng khác khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa nghiêm trọng.
- Trƣờng hợp thực hiện điều ƣớc quốc tế dẫn đến giảm nguồn thu của ngân sách trung ƣơng, Chính phủ trình Quốc hội điều chỉnh việc phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng để bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ƣơng. Theo quy định tại điều 6 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2016 [6], Quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành Luật NSNN thì Hệ thống NSNN đƣợc tổ chức theo mô hình lồng ghép đƣợc mô tả dƣới hình sau: Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hệ thống NSNN (Nguồn: [6]) 1. Khái niệm chi ngân sách nhà nước Theo hình thức biểu hiện, chi NSNN là toàn bộ các khoản chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [8] 8 NSNN là công cụ tài chính của Nhà nƣớc, phục vụ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ. Chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc quyết định đến các nhiệm vụ chi NSNN.
Các nhu cầu chi đƣợc bảo đảm bằng nguồn tài chính NSNN là các nhu cầu chi thuộc nhiệm vụ chi NSNN. Không đƣợc dùng NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi không thuộc nhiệm vụ chi NSNN hay tự đặt ra các khoản chi trái với quy định của pháp luật. Theo chu trình NSNN, chi NSNN là quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính đƣợc tập trung vào quỹ NSNN từ các khoản thu của Nhà nƣớc để đáp ứng các nhu cầu chi thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ [8] Quá trình phân bổ các nguồn tài chính để đáp ứng các nhiệm vụ chi NSNN thực chất là quá trình xây dựng, quyết định, phân bổ kế hoạch chi NSNN trung hạn và dự toán chi NSNN hằng năm. Quá trình sử dụng NSNN chỉ đƣợc thực hiện khi đã có trong dự toán NS đƣợc giao, đã đƣợc thủ trƣởng đơn vị sử dụng NS, chủ đầu tƣ hoặc ngƣời đƣợc ủy quyền quyết định chi và đáp ứng các điều kiện sau: + Đối với chi đầu tƣ xây dựng cơ bản phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tƣ công và xây dựng.
+ Đối với chi thƣờng xuyên phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quy định; trƣờng hợp các cơ quan, đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ thì thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán NS đƣợc giao tự chủ. + Đối với chi dự trữ quốc gia phải bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia.