Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý đội ngũ giáo viên ở trường trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 Chương 2: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở trường trung học cơ sở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 Chương 3: Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG NĂM 2018 1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, việc phát triển nguồn nhân lực luôn gắn với giáo dục và đào tạo.
Trong giáo dục thì vấn đề đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục. Vì vậy, việc nghiên cứu quản lí, phát triển đội ngũ giáo viên là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp thiết đối với sự nghiệp giáo dục. Các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore… luôn xem giáo viên là điều kiện tiên quyết của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục. Các nhà giáo dục học Xô Viết cho rằng: “Kết quả hoạt động của toàn bộ nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên”.
Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zealand, Canada,. đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Tại Thái Lan, từ năm 1998, việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng ngôn ngữ và thông tin tư vấn giáo dục cho mọi người dân trong xã hội. Ở nước Mĩ khi quyết định đưa giáo dục đất nước lên hàng đầu thế giới trong thế kỷ XXI, chính phủ Mĩ đã lấy giải pháp giáo viên làm then chốt.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động quản lý đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện để đội ngũ giáo viên có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội là phương châm hành động của các cấp QLGD. Tại Liên Xô (cũ), các nhà nghiên cứu QLGD như M. đã rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả.
Muốn nâng cao chất lượng dạy học phải có đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn. Họ cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt 6 động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý ĐNGV” [21]. Theo tổng kết của UNESCO sự thay đổi vai trò của người GV đang diễn ra theo hướng: (1) Người GV phải đảm nhiệm nhiều chức năng hơn so với trước và có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo dục; (2) Vai trò của người GV đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập của HS; (3) Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập của HS và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; (4) Yêu cầu người GV phải biết sử dụng rộng rãi các phương tiện dạy học hiện đại, do đó đặt ra yêu cầu trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cần thiết; (5) Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn các GV cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các GV với nhau; (6) Yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; (7) Yêu cầu người GV phải tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường; giảm bớt và làm thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ đối với HS, nhất là đối với HS lớn và với cha mẹ HS. Trên cơ sở này, có thể thấy việc quản lý đội ngũ GV nhằm phát triển GV là trách nhiệm của nhà quản lý trường học cũng như lực lượng khác có liên quan.
Kế đến, vấn đề quản lý đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp cũng đã được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau. Đây cũng là một trong những khuynh hướng có liên quan chặt đến quản lý đội ngũ GV. Vì nếu chuẩn nghề nghiệp trở thành công cụ quản lý thì bất kỳ sự vận động nào của chuẩn cũng kéo theo sự thay đổi nhất định trên bình diện quản lý đội ngũ GV. Các nghiên cứu ở Việt Nam Với phương châm coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII đã nêu rõ “ Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa ĐNGV cũng như CBQL giáo dục” [5].
Đồng thời đề ra những quyết sách về chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên, đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ nhà giáo và chế độ sử dụng giáo viên hợp lý, thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với giáo viên, 7 khuyến khích người giỏi làm nghề dạy học. kết hợp đào tạo giáo viên mới với bồi dưỡng thường xuyên những giáo viên đang làm việc. Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ cũng khẳng định “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng, đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [10]. Thời gian qua, việc nghiên cứu về đội ngũ giáo viên, quản lý và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên ở các cấp học, bậc học khác nhau với các quan điểm tiếp cận khá đa dạng ở một số đề tài, công trình nghiên cứu, luận án, luận văn.
Các nhà khoa học, các nhà sư phạm cũng luôn quan tâm nghiên cứu tìm ra các giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên một cách hữu hiệu nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Đặng Quốc Bảo với “Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà trường trong bối cảnh hiện nay”, nhà xuất bản Đại Học Hà Nội năm 1996 [4]; Nguyễn Văn Lê với “Khoa học quản lý nhà trường” [22]; Trần Kiểm với “Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [18]; Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục miền núi tỉnh Thanh Hóa đến từ năm 2013- 2020” [31]; Nguyễn Lộc (2010), Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam [23]; Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, tác giả Hoàng Trung với đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc” [29]; Phan Văn Kha (2007), xem ĐNGV là nguồn nhân lực của một cấp học, ngành học, tác giả cho rằng, quản lý ĐNGV bao gồm các nội dung: (1) Lập kế hoạch phát triển ĐNGV (về đào tạo, bồi dưỡng GV; tuyển dụng và sử dụng GV; về đầu tư trang thiết bị làm việc; các chính sách đối với GV.) (2) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện quy hoạch; (3) Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển ĐNGV [17] Nguyễn Phúc Châu (2010), quản lý ĐN trong một tổ chức được hiểu là hoạt động nhằm có một lực lượng lao động người đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về tình độ ĐT và đảm bảo chất lượng (phẩm chất, năng lực) đáp ứng được nhiệm vụ và chức năng của tổ chức đó, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phát triển KT- XH. Theo Ông, đội ngũ của 1 tổ chức cũng chính là NNL của tổ chức đó, vì vậy việc phát triển ĐN cũng chính là phát triển NNL [9]. 8 Tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến (2013) trong cuốn sách “đổi mới đào tạo giáo viên trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam” [28], trên cơ sở những nghiên cứu việc đào tạo GV đầu tiên ở Pháp vào năm 1685, khuyến nghị về vị thế nhà giáo của ILO/UNESCO (1966), khung năng lực GV ở Liên minh châu Âu, một số nước trong khu vực và kết quả đánh giá hệ thống GDĐH nước ta, đưa ra nhận định “phần đông trong số này đang thiếu và chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng giảng dạy”.
Nhìn chung, các đề tài, luận án, luận văn đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau về quản lý đội ngũ giáo viên ở các loại hình và trên các vùng miền của đất nước. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu nghiên cứu quản lý đội ngũ giáo viên trong bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở cấp học THCS. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý đội ngũ giáo viên ở trường trung học cơ sở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông năm 2018” là rất cần thiết đối với ngành giáo dục huyện Thường Xuân nhằm góp phần thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Đảng và Nhà nước đồng thời đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Thường Xuân trong tương lai. Khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Giáo viên, giáo viên trung học cơ sở 1. Giáo viên Bàn về khái niệm giáo viên có rất nhiều quan điểm khác nhau: Theo từ điển Tiếng Việt “giáo viên là người giảng dạy, giáo dục cho học sinh, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để đánh giá chất lượng từng học trò” [25]. Theo Luật Giáo dục 2019: Giáo viên giảng là người dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác; giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên [27].