CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN SỰ VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN SỰ 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Nhân sự Nhân sự là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay không thành công trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Đặc biệt là trong thời đại ngày nay khi nền kinh tế công nghiệp đang chuyển sang dần nền kinh tế tri thức thì con người trở thành tài sản quý giá là nhân tố quyết định sự phát triển của mọi tổ chức, quốc gia và vùng lãnh thổ. Một doanh nghiệp có thể có công nghệ hiện đại, chất lượng dịch vụ tốt, cơ sở hạ tầng tốt nhưng nếu thiếu lực lượng lao động thì doanh nghiệp đó khó có thể tồn tại lâu dài và tạo dựng được lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, con người là tổng thể hóa các mối quan hệ xã hội, vì thế có khá nhiều cách tiếp cận cũng như cách hiểu khác nhau về nhân sự.
Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ “lao động”, “sức lao động” và “lực lượng lao động” để chỉ về nhân sự. Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề cạnh tranh gay gắt trên thị trường cùng với sự chuyển đổi từ quá trình sản xuất công nghiệp theo lối cổ truyền sang quá trình sản xuất theo các công nghệ kỹ thuật hiện đại, những biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, việc làm và nhu cầu ngày càng nâng cao của nhân viên đã tạo ra cách tiếp cận mới về con người trong các tổ chức, doanh nghiệp. Vấn đề con người trong các tổ chức, doanh nghiệp được đề cập đến như là vấn đề nhân sự. Với cách đề cập trên, nhân sự được hiểu là những con người cụ thể đảm nhận một chức vụ hay một vị trí công tác nào đó trong cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.
Về ý nghĩa kinh tế, theo quan điểm của C. Mác, Nhân sự là “tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phương, đã được chuẩn bị ở mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước hoặc vùng địa phương cụ thể”. Theo quan điểm kinh tế học phát triển: Ở tầm vĩ mô nhân sự là nguồn lực xã hội, ở tầm vi mô đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tư cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là chủ thế hoạt động và là động lực của tổ chức đó. Từ góc độ hoạch toán kinh tế, nhân sự coi là vốn lao động, 6 với phần đóng góp chi phí của nguồn vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra, là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của người lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tương lai so với những lợi ích hiện tại.
Như vậy, từ cách tiếp cận trên, từ những quan điểm trên, ta có thể kết luận như sau: “Nhân sự là bao gồm tất cả các thành viên trong một tổ chức sử dụng các kiến thức, kĩ năng, khả năng, các hành vi ứng xử, và các giá trị đạo đức nhằm mục đích thành lập, duy trì, và phát triển tổ chức” 1. Phát triển nhân sự Khái niệm về phát triển nguồn nhân sự được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Theo cách tiếp cận của các nhà kinh tế hiện đại: Con người là mục tiêu của sự phát triển chứ không phải là nhân tố sản xuất thông thường. Vì vậy, việc phát triển nhân sự là sự mở rộng các cơ hội lựa chọn, nâng cao năng lực nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, ấm no và bền vững.
Vì thế việc phát triển nhân sự không chỉ là sự gia tăng về thu nhập, của cải vật chất mà còn bao gồm cả việc mở rộng khả năng của con người, tạo cho con người có thể tiếp cận nền giáo dục tốt hơn, chỗ ở tiện nghi hơn và việc làm có ý nghĩa hơn (Đinh Việt Hòa, 2009). Theo tổ chức lao động thế giới: phát triển nhân sự không chỉ là sự phát triển về trình độ lành nghề thông qua đào tạo nói chung mà còn phát triển năng lực để tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO): Phát triển nhân sự một cách hệ thống vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của sự phát triển một quốc gia. Nó bao gồm một khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tao và hoạt động thực tiễn.
Từ quan điểm trên ta thấy: phát triển nhân sự là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nhân sự xã hội với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi trường. Phát triển nhân sự được xem xét trên hai mặt chất và lượng: Phát triển về số lượng: là sự gia tăng về số lượng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân sự theo hướng phù hợp với môi trường và điều kiện hoạt động mới. Sự thay đổi về cơ cấu nhân sự của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độ tuổi, cơ cấu khu vực 7 phẩn bổ nhân sự và cơ cấu về giới. Phát triển về chất lượng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ của các thành viên trong xã hội hoặc tổ chức.
Thước đo để so sánh sự phát triển nhân sự qua các thời kỳ phát triển của một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau là chỉ số Phát triển nhân sự, do Liên hợp quốc sử dụng. Trong mỗi tổ chức, phát triển nhân sự là việc phát triển về số lượng và chất lượng thông qua thực hiện các chức năng của công tác phát triển nhân sự, nhằm có được một đội ngũ nhân sự phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức trong từng thời gian nhất định. Trong nội dung luận văn này, tác giả xin đưa ra quan điểm của mình về khái niệm phát triển nhân sự như sau: “ Phát triển nhân sự bao gồm tất cả các hoạt động nhằm gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồn… Để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong từng thời kỳ”. Vai trò phát triển nhân sự Phát triển nhân sự luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của mỗi tổ chức.
Nhân sự là nguồn lực có giá trị, không thể thiếu đối với một hoạt động của tổ chức hay doanh nghiệp, đồng thời hoạt động của bản thân nó thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố tạo nên tính đa dạng và phức tạp của nguồn nhân sự. Chính vì vậy phát triển nhân sự có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức cũng như của một doanh nghiệp. Đối với nhân sự trong cơ quan quản lý Nhà nước: Với chức năng cơ bản là thực thi công vụ, CBCNV nhà nước phải là người đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, phải nắm rõ tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phản ánh lại cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn.
Ở đây, vị trí vai trò của người CBCNV như là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân. Vì vậy, phát triển nhân sự có phẩm chất và năng lực tốt mới đề ra đường lối đúng, mới có thể cụ thể hoá, bổ sung, hoàn chỉnh đường lối và thực hiện tốt đường lối. Không có nhân sự vững mạnh thì dù cho có đường lối chính trị đúng đắn cũng khó có thể biến thành hiện thực. CBCNV chính là nhân tố quyết định sự thành bại 8 của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.
Nhân sự là “công bộc” của nhân dân, có vai trò quan trọng trong bảo đảm kỷ cương phép nước, bảo vệ pháp luật và công lý, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, chống lại các hành vi xâm hại pháp luật, tuỳ tiện và vô chính phủ. Họ cũng là người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong cuộc đấu tranh với các hiện tượng quan liêu, hành vi tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác làm cho bộ máy Nhà nước trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Ngày nay, trong công cuộc cải cách hành chính, để có một nền hành chính công đạt được tiêu chí của một xã hội văn minh, một nền hành chính thực sự phục vụ nhân dân, xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, thực hiện công bằng, dân chủ, không thể không coi trọng, nâng cao chất lượng mọi mặt của nhân sự. Họ chính là lực lượng nòng cốt để thực hiện chức năng công quản và công bộc của Nhà nước.
Bên cạnh phát triển nguồn nhân sự có vai trò rất to lớn không chỉ đối với công tác quản lý Nhà nước mà đối với người CBCNV: phát triển nguồn nhân sự giúp cho người CBCNV không chỉ cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới, áp dụng thành công các thay đổi về công nghệ, kỹ thuật mà còn rèn luyện đạo đức, phẩm chất và tư cách của người cán bộ góp phần hoàn thành nhiệm vụ được giao, là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định xã hội, an ninh quốc phòng. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN NHÂN SỰ 1. Nội dung nâng cao chất lượng nhân sự Chất lượng nhân sự là trạng thái nhất định của nhân sự, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nhân sự.