Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1. Hoạt động đào tạo Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động đào tạo, tuy nhiên trong luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa của tác giả Nguyễn Trọng Thắng (2005, trang 73): Hoạt động đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng bảo vệ đất nước. Cũng theo tác giả Nguyễn Trọng Thắng thì hoạt động đào tạo có nhiều hình thức tổ chức đào tạo cơ bản là ở các cơ sở đào tạo chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngoài ra còn có hình thức đào tạo không chính quy ngày càng được mở rộng như đào tạo tại chức, đào tạo từ xa, đào tạo cấp tốc. nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.
Ngày nay đào tạo không chỉ là quá trình chuyển giao một chiều mà còn bằng những phương tiện dạy học hiện đại mà các cơ quan đào tạo đang dần dần tiến tới hợp tác song phương với người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác chiếm lấy tri thức, tự trang bị hành trang nghề nghiệp, chuyên môn. Đó là quá trình đào tạo được chuyển biến thành quá trình tự đào tạo của người học. Chỉ khi nào đạt được chuyển biến như vậy thì hiệu quả đào tạo mới cao và có lợi ích thiết thực cho bản thân người học và xã hội. Hoạt động giảng dạy Có nhiều tài liệu và bài viết khác nhau có đề cập đến khái niệm hoạt động giảng dạy, trong nghiên cứu này tác giả lấy khái niệm theo tác giả Nguyễn Trọng Thắng (2005; trang 96).
Theo đó thì giảng dạy là hoạt động 6 z truyền thụ kiến thức, kỹ năng cho người học của nhà giáo. Giảng dạy luôn đi đôi và gắn liền với hoạt động học tập của học viên và hợp thành hoạt động dạy học trong lĩnh vực sư phạm Giảng dạy là sự điểu khiển tối ưu hóa quá trình SV chiếm lĩnh khái niệm khoa học, và bằng cách đó, hình thành và phát triển nhân cách. Giảng dạy và học tập có những mục đích cụ thể khác nhau. Nếu học tập nhằm vào việc chiếm lĩnh khái niệm khoa học thì giảng dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập.
Giảng dạy có 02 chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau đó là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học. Theo tác giả Lê Đức Ngọc [18] thì dạy học đại học là dạy nhận thức, dạy kỹ năng và dạy cảm nhận. Tùy theo khoa học (Tự nhiên hay Xã hội - Nhân văn, Cơ bản hay Công nghệ, Kỹ thuật.) và tùy theo mục tiêu đào tạo (đại học hay sau đại học, chuyên môn hay nghiệp vụ.) mà chọn chủ điểm hay trọng tâm về dạy nhận thức, dạy kỹ năng hay dạy cảm nhận cho phù hợp. Cũng theo tác giả Lê Đức Ngọc, tính nghệ thuật của việc dạy học đại học thể hiện ở năng lực truyền đạt của GV làm sao khơi dậy được tiềm năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của SV để nhận thức, để cảm nhận và để có kỹ năng cao.
Như vậy GV nào càng nắm vững tính khoa học và nghệ thuật của việc dạy học thì sẽ dạy cho SV có được các bậc nhận thức, bậc cảm nhận hay bậc kỹ năng càng cao và GV đó sẽ có chất lượng dạy học cao, đồng thời sản phẩm đào tạo cũng có chất lượng cao. Một số quan điểm về dạy học đại học: Có nhiều quan điểm khác nhau về dạy học đại học. Dưới đây là một số quan điểm chính: - Quá trình dạy học đại học là một quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu của SV dưới sự chỉ đạo của người cán bộ giảng dạy, là một quá 7 z trình hai mặt (dạy và học) nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học, đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học ở đại học. - Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho SV, bản chất của dạy học là tổ chức nên các tình huống học tập “các tình huống gia cố”, trong đó SV sẽ hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn ít nhiều của GV nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học.
Trong quá trình này, SV luôn luôn phải hoạt động tích cực, phải được tăng cường, củng cố, khen thưởng, xác nhận ngay. - Dạy học là một quá trình điều khiển và tự điều khiển, là một quá trình có thể điều khiển được. - Dạy học là một quy trình công nghệ đặc biệt. - Quá trình dạy học là một hệ thống cân bằng động, gồm nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau theo những quy luật và nguyên tắc nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học, nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học.
Ở đây cần phải đặc biệt chú ý đến một số nguyên tắc cơ bản sau: Nguyên tắc dạy học phải xuất phát từ SV, đầu vào, lấy SV làm trung tâm; Nguyên tắc hoạt động; Nguyên tắc đấu tranh nhận thức; Nguyên tắc các đoạn ngắn xác nhận ngay. Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể đi đến quan điểm quan trọng là: Dạy học về bản chất là một quá trình thiết kế và góp phần thi công của GV và học tập về bản chất là một quá trình tự thiết kế và trực tiếp thi công của SV dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ ít nhiều của GV nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học. Đảm bảo chất lượng của giáo dục đại học Đảm bảo chất lượng là sự quan tâm có hệ thống, có cấu trúc và liên tục đến chất lượng theo hướng duy trì và cải tiến chất lượng [11]. Đảm chất lượng là sự kết hợp giữa việc quản lý bên trong và quản lý bên ngoài cơ sở giáo dục đại học.
Việc quản lý bên trong là để nâng cao 8 z quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức quá trình đào tạo của mình. Mặt khác, các cơ quan quản lý bên ngoài về giáo dục đại học cũng đặt ra các cơ chế để làm rõ những quy trình, cơ chế đảm bảo chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, mức độ sử dụng các cơ chế đó, kết quả, hiệu quả của chúng. Sự giám sát bên ngoài này là phần hữu cơ của quy trình làm rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học. Quyền tự chủ luôn đi liền với việc chịu trách nhiệm.
Quyền tự chủ thể hiện thông qua việc giảm bớt can thiệp của các cơ quan quản lý bên ngoài đối với công việc của cơ sở giáo dục đại học; trong khi đó tăng tính chịu trách nhiệm tức là đưa cơ chế công khai hóa vào thực thi trong quản lý giáo dục đại học. Đây là cách thức tiến bộ hơn nhiều so với việc giám sát chất lượng đơn thuần trong quản lý giáo dục đại học trước đây. Bảo đảm chất lượng, như vậy, yêu cầu trách nhiệm cao từ phía cơ sở giáo dục đại học, mặc dù các cơ quan bên ngoài có liên quan vẫn giữ những trách nhiệm nhất định. Đảm bảo chất lượng là sự phối hợp trách nhiệm giữa cơ sở giáo dục đại học với các cơ quan bên ngoài, nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về cơ sở giáo dục đại học.
Chất lượng chỉ có thể được duy trì và nâng cao nhờ các hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý chất lượng trong nhà trường; là kết quả của sự tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động của cơ sở giáo dục đại học. Hay nói cách khác, hoạt động quản lý chất lượng bên trong nhà trường là điểm xuất phát, là nền tảng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục đại học. Thiết lập một hệ thống phối hợp quản lý chất lượng ở bên ngoài trường đại học là cần thiết. Tuy nhiên, phải làm rõ chức năng, hoạt động và sự phối hợp của các tổ chức này với cơ sở giáo dục đại học.
Trong xu thế tăng cường quyền tự chủ và chịu trách nhiệm của giáo dục đại học, việc kiểm định và đánh giá bên ngoài chỉ có ý nghĩa làm rõ cơ chế chịu trách nhiệm và công khai chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học mà thôi. Đảm bảo chất lượng trong 1.1 Khái niệm đảm bảo chất lượng trong Có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐBCLT, tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả lấy từ định nghĩa của tác giả Phạm Thành Nghị (2000, trang 43). Theo tác giả Phạm Thành Nghị: Đảm bảo chất lượng là sự quan tâm có hệ thống, có cấu trúc và liên tục đến chất lượng theo hướng duy trì và cải tiến chất lượng. Đảm chất lượng là sự kết hợp giữa việc quản lý bên trong và quản lý bên ngoài cơ sở giáo dục đại học.
Việc quản lý bên trong là để nâng cao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức quá trình đào tạo của mình. Mặt khác, các cơ quan quản lý bên ngoài về giáo dục đại học cũng đặt ra các cơ chế để làm rõ những quy trình, cơ chế đảm bảo chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, mức độ sử dụng các cơ chế đó, kết quả, hiệu quả của chúng. Sự giám sát bên ngoài này là phần hữu cơ của quy trình làm rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học. Quyền tự chủ luôn đi liền với việc chịu trách nhiệm.
Quyền tự chủ thể hiện thông qua việc giảm bớt can thiệp của các cơ quan quản lý bên ngoài đối với công việc của cơ sở giáo dục đại học; trong khi đó tăng tính chịu trách nhiệm tức là đưa cơ chế công khai hóa vào thực thi trong quản lý giáo dục đại học. Đây là cách thức tiến bộ hơn nhiều so với việc giám sát chất lượng đơn thuần trong quản lý giáo dục đại học trước đây. Bảo đảm chất lượng, như vậy, yêu cầu trách nhiệm cao từ phía cơ sở giáo dục đại học, mặc dù các cơ quan bên ngoài có liên quan vẫn giữ những trách nhiệm nhất định. Đảm bảo chất lượng là sự phối hợp trách nhiệm giữa cơ sở giáo dục đại học với các cơ quan bên ngoài, nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về cơ sở giáo dục đại học.
Chất lượng chỉ có thể được duy trì và nâng cao nhờ các hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý chất lượng trong nhà trường; là kết quả 10 z của sự tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.