chương 1. Một số khái niệm Ngày nay có thêm nhiều bằng chứng và nhận thức rõ hơn rằng đào tạo và giáo dục là khoản đầu tư chiến lược chủ chốt cho sự phồn vinh của dân tộc. Sự thành công vượt trội của các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, v. là minh chứng hùng hồn cho thắng lợi khi họ đầu tư vào giáo dục và đào tạo.
Các khái niệm đào tạo, phát triển đều đề cập đến một quá trình tương tự như: giúp cho con người tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của các cá nhân. Tuy nhiên, trong thực tế lại có nhiều quan điểm khác nhau về giáo dục, đào tạo và phát triển: Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi làm việc của người lao động. Theo Cherrington, giáo dục mang tính chất chung, cung cấp cho học viên những kiến thức chung có thể sử dụng vào các lĩnh vực khác nhau. Đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kỹ năng, kiến thức đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể.
Phát triển liên quan đến việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hơn [2]. Wayen không tán thành quan điểm truyền thống, coi đào tạo được dành cho nhân viên cấp dưới, còn phát triển để cho các nhân viên cấp cao và sự khác biệt cơ bản giữa đào tạo và phát triển ở chỗ: đào tạo chú trọng vào các kỹ năng tay chân, 8 còn phát triển chú trọng vào kỹ năng giao tiếp, ra quyết định,v. Theo Wayne, khái niệm đào tạo và phát triển, sẽ được thay đổi cho nhau và đều bao hàm các chương trình được hoạch định nhằm hoàn thiện việc thực hiện công việc ở các cấp: cá nhân, nhóm và tổ chức [2]. Theo quan điểm của Cenzo và Robbins, điểm tương đồng giữa đào tạo và phát triển là chúng đều có phương pháp tương tự, được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành.
Tuy nhiên đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của các cá nhân, giúp các cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại. Còn phát triển nhằm chú trọng lên các công việc tương lai trong tổ chức, doanh nghiệp. Khi một người được thăng tiến lên chức vụ mới, họ cần có những kiến thức, kỹ năng mới theo yêu cầu của công việc. Công tác phát triển nhân viên sẽ giúp cho cá nhân chuẩn bị sẵn những kiến thức, kỹ năng cần thiết đó [2].
Trước hết, phát triển NNL chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức cung cấp cho người lao động. Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi làm việc cho người lao động theo hướng đi lên, tức là nâng cao khả năng và trình độ nghiệp vụ cho họ. Như vậy, xét về nội dung, phát triển NNL bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển. Từ những quan điểm trên ta rút ra một số khái niệm về NNL, đào tạo và phát triển NNL sau đây: Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người gồm thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định.
Đào tạo nguồn nhân lực: Đào tạo nguồn nhân lực là việc huấn luyện, tập huấn, giảng dạy cho các cá nhân, tổ chức làm cho họ trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực: là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực (trí tuệ, 9 thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội), nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Đào tạo và phát triển: là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng NNL của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong mọi biến động của kinh tế xã hội. Do đó trong các tổ chức, công tác đào tạo và phát triển cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch.
Tóm lại, từ các quan điểm trên có thể hiểu rằng, đào tạo là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức hoặc phát triển nghề nghiệp cho họ. Mục tiêu và vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 1.1 Vai trò đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đào tạo và phát triển nhân sự là một trong những biện pháp tích cực tăng khả năng thích ứng của tổ chức trước sự thay đổi của môi trường. Đào tạo và phát triển cung cấp cho doanh nghiệp và tổ chức nguồn nhân sự chất lượng cao góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh.
Đào tạo được coi là một vũ khí chiến lược của tổ chức nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trước các đối thủ, góp phần thực hiện tốt chiến lược chung về nhân sự của một doanh nghiệp, tổ chức và cao hơn là chiến lược chung về nhân sự của quốc gia. Ngày nay đào tạo được coi như một khoản đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của tổ chức. Các nghiên cứu cho thấy hiệu quả của những nhân viên mới được đào tạo ngang bằng với những nhân viên có kinh nghiệm. Đồng thời, Đào tạo tạo ra một nguồn năng lực hiện tại và tương lai cho tổ chức.
Ngày càng có nhiều bằng chứng kinh tế chứng tỏ rằng việc đầu tư cho Đào tạo gắn liền với khả năng sinh lợi lâu dài và bền vững cho tổ chức.2 Mục tiêu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Giúp cho CBCC thực hiện công việc tốt hơn, đặc biệt khi CBCC thực hiện công việc không đáp ứng được các tiêu chuẩn mẫu hoặc CBCC nhận công việc mới. 10 Cập nhật các kỹ năng và kiến thức mới cho nhân viên, giúp họ có thể áp dụng thành công các thay đổi công nghệ, kỹ thuật trong công việc. Tạo ra cách nhìn mới,tư duy mới trong công việc của CBCC, kích thích sự sáng tạo trong công việc thỏa mãn nhu cầu phát triển cho nhân viên. Khi được trang bị kỹ năng chuyên môn cần thiết sẽ kích thích cho nhân viên làm việc tốt hơn.
- Mục tiêu chung của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho CBCC hiểu rõ hơn về tổ chức, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, thái độ tốt hơn, cũng như nâng cả khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai. Có nhiều lý do để nói rằng công tác đào tạo và phát triển là quan trọng và cần được quan tâm đúng mức trong các tổ chức. Trong đó có ba lý do chủ yếu là: Để đáp ứng các yêu cầu của công việc tổ chức hay nói cách khác là để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức. Để đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của CBCC.
Đào tạo và phát triển là những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cho tổ chức trước những thách thức của xã hội. Đào tạo và phát triển là điều kiện quyết định để một tổ chức có thể tồn tại và đi lên trong tương lai. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp cho tổ chức: - Nâng cao năng lực làm việc, thực hiện công việc có hiệu quả hơn. - Nâng cao chất lượng của thực hiện công việc.
- Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức. - Duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực. - Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào tổ chức. Đối với CBCC, vai trò của đào tạo và phát triển NNL thể hiện ở chỗ: - Tạo ra được sự gắn bó giữa CBCC và tổ chức.
- Tạo ra tính chuyên nghiệp của CBCC. - Tạo sự thích ứng giữa CBCC và công việc hiện tại cũng như tương lai. 11 - Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển cho CBCC. - Tạo cho CBCC có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của CBCC trong công việc Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa đào tạo và phát triển trong tổ chức Đào tạo Phát triển - Một nỗ lực của tổ chức để thúc - Liên quan tới việc dạy cho người lao đẩy việc học tập về những kiến động những kiến thức, kỹ năng cần thiết thức, kỹ năng, thái độ và hành vi cho công việc hiện tại và tương lai.
liên quan đến công việc. - Giúp cho nhà quản lý hiểu biết tốt hơn, - Giúp tổ chức hoạt động với hiệu giải quyết các vấn đề và ra quyết định tốt suất cao hơn. hơn, động viên người lao động để thu được - Nhằm nâng cao năng suất của những lợi ích từ các cơ hội. người lao động - Được sử dụng để làm phù hợp với những thay đổi trong tổ chức.3 Nội dung đào tạo nguồn nhân lực Xác định nhu cầu, mục tiêu đào tạo Xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển NNL Hệ thống thông tin Triển khai thực hiện hoạt động đào tạo, phát triển NNL phản hồi Đánh giá kết quả đào tạo, phát triển NNL Hình 1.
1 Quy trình đào tạo nguồn nhân lực ( Nguồn: Giáo trình quản trị nhân lực của Lưu Thị Minh Ngọc – ĐHCN Hà Nội) 12 1.1 Xác định nhu cầu và mục tiêu đào tạo và phát triển NNL a. Xác định nhu cầu đào tạo Là xác định khi nào, ở bộ phận nào cần phải đào tạo, đào tạo kỹ năng nào, cho loại CBCC nào và bao nhiêu người.