Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐĂK NÔNG 1. Chính sách phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước hiện nay 1. Khái niệm dân tộc thiểu số Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc thiểu số là một khái niệm dùng để chỉ sự tương quan về số dân giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc.
Địa vị, trình độ phát triển của mỗi dân tộc bị chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội - lịch sử của từng dân tộc chứ không phải do số dân nhiều hay ít quy định. Theo Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998, dân tộc thiểu số được hiểu là dân tộc ít người. Dân tộc ít người là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống trong vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế - xã hội. Trong Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 1 năm 2011 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về “Công tác dân tộc” nêu rõ: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Ở Việt Nam hiện nay, dân tộc Kinh chiếm khoảng 86% dân số, được coi là dân tộc đa số; 53 dân tộc còn lại chiếm khoảng 14% dân số, được gọi là dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam [22, tr. Khái niệm cán bộ; đội ngũ cán bộ; đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số - Thuật ngữ cán bộ người dân tộc thiểu số được sử dụng nhiều trong các văn bản của Đảng và Nhà nước, tuy nhiên thuật ngữ này vẫn đang được các nhà khoa học nghiên cứu để đi đến quan điểm thống nhất. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức 2008 thì cán bộ được định nghĩa như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Tuy nhiên trong hệ thống văn bản của Đảng thì quy định chung về cán bộ được hiểu là những người làm việc trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Vì vậy trong phạm vi đề tài nghiên cứu này thuật ngữ “cán bộ” sẽ được hiểu là tất cả những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ được đề cập đến trong đề tài này là những người làm việc trong hệ thống chính trị ở thành phố và các phường, xã của thành phố, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định”. Hay nói cách khác đội ngũ cán bộ là một tập thể gồm số đông người, có chung lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ đạo thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau.
- Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số dùng để chỉ những người đang công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị có thành phần dân tộc xuất thân là các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tiêu chí để phân biệt “cán bộ dân tộc thiểu số” trong “đội ngũ cán bộ” nói chung là có thành phần xuất thân từ các “dân tộc thiểu số”. 9 Luan van Như vậy, có thể hiểu đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được hiểu là những người công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân từ các dân tộc thiểu số; có trách nhiệm và quyền hạn nhất định được tổ chức giao phó; có năng lực và trình độ công tác đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức cách mạng; trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, hết lòng phục vụ Nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lợi ích tối cao của Tổ quốc. Trong một số văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, cụm từ cán bộ dân tộc thiểu số được thay bằng cụm từ cán bộ là người dân tộc thiểu số.
Xét về ngữ nghĩa, đây là hai cụm từ đồng nghĩa. Xét về nội hàm khái niệm, đây là hai khái niệm có cùng một nội hàm, có thể thay thế cho nhau. Khái niệm chính sách, chính sách công và lý luận về thực hiện chính sách công - Khái niệm chính sách: Chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được; là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và với bộ máy quyền lực công đó là nhà nước - Khái niệm chính sách công: Chính sách công là ý chí chính trị của đảng cầm quyền, được thể hiện cụ thể là các quyết sách, quyết định chính trị của nhà nước.
Các quyết định này nhằm duy trì tình trạng xã hội hoặc giải quyết các vấn để xã hội, đáp ứng nhu cầu của người dân. Chủ thể ban hành chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau, các quyết định này là những quyết định hành động, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định. Chính sách công bao gồm những việc nhà nước định làm và không định làm tác động đến các đối tượng của chính sách. Chính sách công được Nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc của quốc gia.
10 Luan van - Lý luận thực hiện chính sách công: Thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống. Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi chính sách. Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống.
Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn. Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước). Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước. Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý.
Qua thực hiện mới biết được chính sách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không. Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Đồng thời, việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện. Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách.
Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách. Như vậy, chính sách công vừa thể hiện bản chất của chính sách là công cụ định hướng của Nhà nước cho mọi hành vi xã hội đối với các quá trình phát triển. Định hướng 11 Luan van đó được thể hiện qua thái độ ứng xử với những vấn đề đã, đang và sẽ nảy sinh trong đời sống cộng đồng. Hiện nay Nhà nước đã ban hành, thực hiện rất nhiều chính sách liên quan đến đời sống xã hội, trong đó có chính sách phát triển cán bộ dân tộc thiểu số.
Chính sách phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số - Chính sách phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số là chính sách công và là một nội dung nội dung trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc thiểu số. Đây là một nội dung rất quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số có cơ cấu hợp lý, có năng lực và phẩm chất để thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là một hệ thống các chủ trương, giải pháp, nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc, trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp.