Chương 1. LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1. Lý luận về an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội 1. Lý luận về an sinh xã hội Thuật ngữ ASXH (Social Security) được sử dụng khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Từ những góc độ tiếp cận khác nhau mà có những cách lý giải khác nhau về ASXH. Từ góc độ lịch sử, đạo luật “bảo đảm xã hội” của Thủ tướng Otto von Bismarck (1815-1898) được ban hành ở nước Phổ vào cuối thế kỷ XIX đánh dấu cho sự xuất hiện đầu tiên của ASXH trong lịch sử. Theo mô hình “bảo đảm xã hội” này, BHXH là yếu tố then chốt, tạo nên một hệ thống các đạo luật về bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp, bảo hiểm tuổi già,… nhằm bảo đảm cho các tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là công nhân, từ các đối tác xã hội. Mô hình của Bismarck là nền tảng cho quá trình phát triển của một nhà nước phúc lợi ở Đức ngày nay.
Năm 1935, khái niệm ASXH được chính thức sử dụng trong tên một đạo luật của Hoa Kỳ - Luật về ASXH, và sau đó nhiều nước và định chế quốc tế khác cũng đã áp dụng khái niệm này trong các đạo luật và công ước của họ, như Hiến chương Đại Tây Dương năm 1941, Công ước về quy phạm tối thiểu về ASXH của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1952. Tuy nhiên, do có sự khác biệt về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận, nên hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến không đồng nhất về ASXH. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), ASXH là một vấn đề liên quan đến việc xã hội cung cấp cho các thành viên của mình những gì thông qua các chính sách công cộng, nhằm giảm thiểu sự thiếu thốn kinh tế do các nguyên 8 nhân gây ra sự giảm thu nhập thực tế từ việc ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, chăm sóc y tế, trợ cấp gia đình đông con, người già chết,. Trong tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948, thuật ngữ ASXH cũng được nhắc đến: “Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng ASXH, cũng như có quyền đòi được hưởng quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.
Đến năm 1952, hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế đã thông qua Công ước số 102 về ASXH (Những tiêu chuẩn tối thiểu), trong đó có 9 nhánh là: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già (hưu bổng), trợ cấp tai nạn lao động/ bệnh nghề nghiệp, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất, trợ cấp gia đình. Các điều khoản của Công ước sẽ được lấy bởi các quốc gia đã phê chuẩn Công ước để áp dụng vào hệ thống pháp luật và hình thành một hệ thống tối thiểu của riêng mỗi quốc gia. Sau khi Công ước 102 được Tổ chức Lao động Quốc tế thông qua, thuật ngữ ASXH đã được lan rộng khắp thế giới và đã tạo nên một hệ thống ASXH lớn mạnh ở các nước khác nhau. Tuy nhiên, mỗi quốc gia, tổ chức quốc tế cũng như các nhà nghiên cứu, trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau lại có những quan điểm riêng về ASXH.
Một số quan điểm nổi bật có thể kể đến như: Quan niệm của các Tổ chức quốc tế về ASXH: ASXH, theo Hiến chương Đại Tây Dương, là sự bảo đảm cho con người có quyền được sống trong hòa bình, tự do kinh doanh, cư ngụ, lưu thông, bày tỏ ý kiến trong khuôn khổ luật pháp, được bình đẳng trước pháp luật, được học hành, làm việc, nghỉ hưu, có nhà cửa, được chữa bệnh và có thu nhập đủ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản khi gặp phải rủi ro, thai sản, ốm yếu, già nua,… Hiến chương Đại Tây Dương nói về ASXH theo một ý nghĩa rộng lớn, không chỉ là việc bảo vệ con người khi gặp phải các tình huống khó khăn, ốm 9 đau mà còn là việc bảo đảm thực hiện các quyền căn bản của con người trong cuộc sống bình thường, từ quyền học hành, làm công, nghỉ hưu,… đến quyền được sống an lành. ASXH, theo Ngân hàng Thế giới (WB), là những biện pháp công cộng nhằm hỗ trợ cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng vượt qua và hạn chế được nguy cơ ảnh hưởng đến thu nhập nhằm giảm sự dễ bị tổn thương và những dao động về thu nhập. ASXH, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), là sự bảo vệ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp phổ biến để đối phó với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội gây ra việc mất hoặc giảm sút thu nhập nghiêm trọng do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và tử vong, bên cạnh đó cung cấp các dịch vụ y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ. Theo Hiệp hội An sinh Quốc tế (ISSA) quan niệm, ASXH là một phần của hệ thống chính sách công liên quan đến bảo vệ an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ riêng công nhân.
Những vấn đề mà ISSA quan tâm trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội. Quan niệm ở Việt Nam về ASXH: Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều quan niệm khác nhau được đưa ra khi nói về ASXH. Với sự quan tâm ngày càng nhiều đến từ phía các nhà khoa học cũng tư các nhà lãnh đạo, quản lý, từ các góc độ khác nhau mà quan niệm về ASXH được đưa ra một cách phong phú và đa dạng. Có thể kể đến một số quan điểm nổi bật như sau: GS Hoàng Chí Bảo cho rằng: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội.
ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con 10 người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách. ASXH phải bao hàm trong đó cả những đảm bảo về an ninh để con người sống, làm việc, thực hiện được nhu cầu, lợi ích chính đáng, hợp lý của mình trong quá trình phát triển; con người nhận được từ xã hội những bảo đảm về cuộc sống, những bảo vệ trước những rủi ro, bất trắc, những tình huống bất thường đe dọa hoặc phá hủy trạng thái bình yên, quyền sống và sự thụ hưởng lợi ích của họ [5, tr.TS Nguyễn Hải Hữu nhấn mạnh “ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về BHXHBHYT và trợ giúp xã hội” [10, tr.TS Mạc Văn Tiến, ASXH có tính bao quát khá rộng, tác động đến không chỉ từ lúc con người sinh ra (trợ cấp thai sản) mà cả sau khi mất đi (trợ cấp tử tuất). Đồng thời ông cũng cho rằng, chúng ta nên dựa quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) theo nghĩa hẹp để phù hợp với đặc điểm đất nước ta. ASXH nói chung, được cho là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già,… Theo nghĩa hẹp, ASXH được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch họa,… [19] 11 Tóm lại, ASXH là “hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (BHXH/trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định hoặc của tư nhân) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội”.
Lý luận về chính sách an sinh xã hội 1. Khái niệm chính sách an sinh xã hội Chính sách ASXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc gia hướng vào bảo vệ, bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội đối với các trường hợp rủi ro dẫn đến bị giảm hoặc bị mất thu nhập, hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau - gọi là “rủi ro xã hội”. ASXH dựa trên nguyên tắc chia sẻ trách nhiệm và công bằng xã hội, là một trong những chỉ báo quan trọng của một xã hội phát triển.16] Ở khái niệm ASXH, có thể thấy chức năng bảo đảm sự an toàn, bình yên cho mọi thành viên khi đứng trước những thách thức, rủi ro ảnh hưởng đến thu nhập cũng như chất lượng cuộc sống được nhấn mạnh. Còn đối với chính sách ASXH, những kế hoạch, cách thức, biện pháp và hành động cụ thể của nhà nước là chủ thể được quan tâm trên hết nhằm đạt được mục tiêu của ASXH.
Nói cách khác, các thành viên trong xã hội có thể ASXH, nhưng để kết nối một cách có hệ thống từ mỗi cá nhân cho đến các tập thể, tổ chức trong xã hội nhằm thực hiện một mục tiêu chung, đảm bảo ASXH thì chính sách ASXH chính là công cụ.