Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Người khuyết tật và vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội 1. Khái niệm người khuyết tật Vào những năm 1970, trong các văn bản quốc tế thường dùng hai từ tiếng Anh “disability” (khuyết tật) và “handicap” (không hội nhập được) để nói về người khuyết tật. Từ “disability” được dùng để nói về một loạt những hạn chế về mặt chức năng khác nhau xuất hiện ở bất cứ cộng đồng dân cư và bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
Người ta có thể bị khuyết tật về cơ thể, trí tuệ hoặc giác quan. Những khiếm khuyết ấy có thể là lâu dài và cũng có thể là nhất thời. Có nghĩa là từ “disability” giải thích vấn đề “tàn tật” từ góc độ y học và chẩn đoán. Còn “handicap” có nghĩa là thiếu hoặc bị hạn chế những cơ hội để tham gia vào đời sống của cộng đồng một cách bình đẳng như những người khác.
Nó mô tả sự đụng độ giữa người khuyết tật với môi trường sinh hoạt. Mục đích của từ này là muốn nhấn mạnh đến những sự thiếu hoàn chỉnh của môi trường sinh hoạt và trong nhiều hoạt động có tổ chức của xã hội, chẳng hạn như các lĩnh vực thông tin, giao tiếp và giáo dục, sự thiếu hoàn chỉnh ấy đã góp phần làm ngăn cản người khuyết tật được tham gia một cách bình đẳng. Có nghĩa là từ “handicap” giải thích vấn đề “tàn tật” từ góc độ thiếu hoàn thiện của môi trường xã hội. Hai từ “disability” và “handicap” thường được dùng không rõ ràng và nhiều khi lẫn lộn với nhau, vì thiếu mà nhiều khi đã dẫn đến sự dẫn hướng chưa được thích đáng cho phía hoạch định chính sách và thi hành chính sách.
Năm 1980, Tổ chức y tế thế giới đã thông qua sự phân loại trên phạm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vi quốc tế về các khái niệm "impairment" (khiếm khuyết), "disability" (khuyết tật hay tàn tật) và "handicap" (không hội nhập được), nó cho thấy có một sự tiếp cận vấn đề chuẩn xác hơn, nhằm sử dụng được một cách thỏa đáng trong nhiều lĩnh vực như phục hồi chức năng, giáo dục, thống kê, chính sách, lập pháp, điều tra dân số, xã hội học, kinh tế học và nhân học. Những trải nghiệm thu nhận được từ việc thực hiện Chương trình hành động thế giới về người khuyết tật và qua rất nhiều cuộc thảo luận được mở ra trong Thập kỉ người khuyết tật của Liên hiệp quốc (1983-1992) đã khiến cho người ta có được những kiến thức sâu hơn và sự hiểu biết rộng hơn về vấn đề người khuyết tật cùng những từ ngữ được dùng nói trên. Việc sử dụng đồng thời các từ này cho thấy sự cần thiết của việc cần hướng đến cả những nhu cầu cá nhân (như phục hồi chức năng và các trợ giúp kĩ thuật) và cả sự còn thiếu hoàn chỉnh của xã hội (những trở ngại khác nhau khi tham gia vào các hoạt động xã hội). Trước đây trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như của Việt Nam thường sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”.
Theo Tuyên ngôn của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 9/12/1975 thì: Người tàn tật có nghĩa là bất cứ người nào mà không có khả năng tự bảo đảm cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ [26]. Theo Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ Việt Nam về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động người tàn tật. Điều 1 quy định, người tàn tật là “người mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên do tàn tật được hội đồng giám định y khoa xác định” [9]. Theo pháp lệnh về người tàn tật của Việt Nam ban hành ngày 30/7/1998 Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [49].
Tuy nhiên, hiện nay hầu như tất cả các văn bản liên quan đến người khuyết tật đều không sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”. Sau này công ước quốc tế và những văn bản quốc tế đều dùng từ Poeple with disability – Người sống chung với khuyết tật; như một cách nói tránh để giảm sự kỳ thị với người khuyết tật – Luật người khuyết tật Việt Nam được xây dựng sau khi có công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, tiếp thu công ước nên cũng xây dựng và tiếp cận người khuyết tật theo hướng quyền, và nguyện vọng của người khuyết tật – Chứ không theo hướng bảo trợ xã hội như pháp lệnh người tàn tật 1998 – Nên thống nhất sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” Điều 1, Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 quy định: Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ với hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [50]. Theo định nghĩa trong Đạo luật người khuyết tật Hoa Kỳ năm 1990 thì “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”[43, tr. Một người được coi là người khuyết tật nếu đã có một khiếm khuyết nào đó từ trước.
Những khiếm khuyết ấy có thể bao gồm khiếm khuyết về cơ thể, giác quan, nhận thức hoặc trí tuệ. Những người bị rối loạn tâm thần và mắc các loại bệnh kinh niên khác nhau cũng có thể được coi là người khuyết tật. Các khuyết tật có thể xuất hiện trong cuộc đời hoặc có ngay từ lúc sinh ra ở một người nào đó. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ luật xã hội Đức định nghĩa: Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội [43, tr.18] Ở Việt Nam, người khuyết tật được Đảng, Nhà nước quan tâm từ rất sớm.
Tuy vậy, thuật ngữ người khuyết tật mới được sử dụng gần đây với sự ra đời của Luật người khuyết tật năm 2010. Theo đó người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [34, Điều 2, Khoản 1]. Lý do để giải thích cho việc thay đổi thuật ngữ này là việc hiểu bản chất của khuyết tật có thể từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là từ cá nhân, từ xã hội. Nếu dùng từ “tàn tật” thì chỉ tập trung vào sự bất lợi của người khuyết tật đối với mọi người xung quanh, tức là phân biệt họ với những người khác trong xã hội.
Do vậy, xu hướng chung được khuyến nghị là sử dụng thuật ngữ “khuyết tật” thay cho “tàn tật”. Ở Việt Nam khái niệm “Người khuyết tật” đã thay đổi theo từng giai đoạn và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa và lịch sử. Trước năm 2009, thuật ngữ phổ biến để chỉ người khuyết tật là “tàn tật” và quan điểm nhìn nhận phổ biến về người khuyết tật chủ yếu theo xu hướng mô hình từ thiện. Bắt đầu từ năm 2010, thuật ngữ “người khuyết tật” được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “người tàn tật”, điều này thể hiện sự tiến bộ mạnh mẽ trong công tác bảo vệ, giáo dục, chăm sóc người khuyết tật.
Hiện nay tại Việt Nam, thuật ngữ “khuyết tật” được sử dụng với vai trò là thuật ngữ chính thống và phổ biến khi nói về nhóm đối tượng dân cư đặc thù này. Điều này không chỉ có tác dụng tích cực với nhóm người khuyết tật về mặt tinh thần mà 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com còn tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của xã hội nhằm hướng tới những thay đổi mạnh mẽ. Như vậy, tùy từng thời điểm và từng quốc gia mà khái niệm về người khuyết tật có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định. Để có khái niệm chung nhất về người khuyết tật nhằm thuận lợi cho việc tìm hiểu nghiên cứu tác giả xin trích dẫn khái niệm trong Giáo trình Luật về người khuyết tật của trường Đại học Luật Hà Nội vào, đây là khái niệm mà tác giả thấy phù hợp, ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa bao quát hết được những đặc điểm cơ bản của người khuyết tật.
Theo đó “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác” [43, tr. Đặc điểm của người khuyết tật Việc xác định và làm rõ đặc điểm của người khuyết tật không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định đúng đối tượng nào là người khuyết tật mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng những quy định của pháp luật mang tính khả thi cao về người khuyết tật, điều chỉnh đúng phạm vi đối tượng là người khuyết tật. Người khuyết tật trước hết cũng là những con người nên họ mang những đặc điểm chung về tâm sinh lý, đặc điểm về kinh tế - xã hội như mọi người khác trong xã hội. Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với những người không khuyết tật và mỗi nhóm khuyết tật khác nhau lại có những nét đặc thù tương đối khác nhau.
Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật. Đặc điểm về dạng tật Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về phân loại người 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.