Luận Văn Thạc Sĩ Về Trợ Giúp Xã Hội Đối Với Người Khuyết Tật Tại Thành Phố Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại thành phố hà nội, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2016

88
6
2

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1. Người khuyết tật và vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội

1.1.1. Khái niệm người khuyết tật

1.1.2. Đặc điểm của người khuyết tật

1.1.3. Vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội

1.2. Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

1.2.1. Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

1.2.2. Sự cần thiết phải có pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

1.2.3. Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

2.2. Đối tượng được trợ giúp xã hội

2.3. Trình tự, thủ tục hưởng trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

2.4. Quyền lợi về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

2.5. Nguồn tài chính và cơ quan tổ chức thực hiện

2.6. Thực tiễn thực hiện trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

3.1. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Trợ Giúp Xã Hội Cho Người Khuyết Tật Tại Hà Nội

Trợ giúp xã hội cho người khuyết tật tại Hà Nội là một vấn đề quan trọng trong chính sách an sinh xã hội. Người khuyết tật không chỉ gặp khó khăn trong cuộc sống hàng ngày mà còn cần sự hỗ trợ từ cộng đồng và chính phủ để hòa nhập vào xã hội. Chính sách trợ giúp xã hội hiện nay đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết.

1.1. Khái Niệm Về Người Khuyết Tật

Người khuyết tật được định nghĩa là những người có khiếm khuyết về thể chất, trí tuệ hoặc giác quan, ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội. Khái niệm này không chỉ dừng lại ở việc mô tả tình trạng sức khỏe mà còn liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong xã hội.

1.2. Vai Trò Của Người Khuyết Tật Trong Xã Hội

Người khuyết tật đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội đa dạng và bao trùm. Họ không chỉ là đối tượng cần được trợ giúp mà còn có thể đóng góp tích cực vào sự phát triển của cộng đồng nếu được tạo điều kiện thuận lợi.

II. Thực Trạng Trợ Giúp Xã Hội Cho Người Khuyết Tật Tại Hà Nội

Thực trạng trợ giúp xã hội cho người khuyết tật tại Hà Nội hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được cải thiện. Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, từ thủ tục hành chính đến mức độ tiếp cận dịch vụ.

2.1. Các Chương Trình Hỗ Trợ Hiện Có

Hà Nội đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ cho người khuyết tật, bao gồm các dịch vụ y tế, giáo dục và đào tạo nghề. Tuy nhiên, việc tiếp cận các chương trình này vẫn còn hạn chế do thiếu thông tin và cơ sở vật chất.

2.2. Những Thách Thức Trong Việc Thực Hiện Chính Sách

Một số thách thức lớn trong việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho người khuyết tật bao gồm sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp luật, sự phân bổ ngân sách không hợp lý và sự thiếu nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của người khuyết tật.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trợ Giúp Xã Hội Cho Người Khuyết Tật

Để nâng cao hiệu quả trợ giúp xã hội cho người khuyết tật, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc cải thiện chính sách mà còn cần sự tham gia của toàn xã hội.

3.1. Cải Thiện Chính Sách Hỗ Trợ

Cần rà soát và điều chỉnh các chính sách hiện hành để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Việc này bao gồm việc tăng cường ngân sách cho các chương trình hỗ trợ và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

3.2. Tăng Cường Nhận Thức Cộng Đồng

Giáo dục và nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của người khuyết tật là rất quan trọng. Các hoạt động truyền thông cần được triển khai để thay đổi cách nhìn nhận và tạo ra môi trường thân thiện hơn cho người khuyết tật.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Về Trợ Giúp Xã Hội

Nghiên cứu về trợ giúp xã hội cho người khuyết tật tại Hà Nội đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực nhưng cũng không ít vấn đề cần khắc phục. Việc áp dụng các chính sách trợ giúp xã hội cần được theo dõi và đánh giá thường xuyên.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Các Chương Trình Hỗ Trợ

Nhiều chương trình hỗ trợ đã giúp cải thiện đời sống của người khuyết tật, từ việc tiếp cận giáo dục đến việc tạo ra cơ hội việc làm. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả thực sự của các chương trình này.

4.2. Những Bất Cập Cần Khắc Phục

Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội. Cần có các biện pháp khắc phục để đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật được thực thi đầy đủ.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Trợ Giúp Xã Hội Cho Người Khuyết Tật

Kết luận về trợ giúp xã hội cho người khuyết tật tại Hà Nội cho thấy cần có những bước đi mạnh mẽ hơn trong việc cải thiện chính sách và thực tiễn. Tương lai của trợ giúp xã hội cho người khuyết tật phụ thuộc vào sự cam kết của cả xã hội.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Chính Sách Hỗ Trợ

Chính sách hỗ trợ cần được coi là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển xã hội. Việc đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là của toàn xã hội.

5.2. Hướng Đi Tương Lai

Hướng tới một xã hội không có rào cản cho người khuyết tật là mục tiêu cần đạt được. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cộng đồng để thực hiện điều này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Người khuyết tật và vai trò của người khuyết tật trong đời sống xã hội 1. Khái niệm người khuyết tật Vào những năm 1970, trong các văn bản quốc tế thường dùng hai từ tiếng Anh “disability” (khuyết tật) và “handicap” (không hội nhập được) để nói về người khuyết tật. Từ “disability” được dùng để nói về một loạt những hạn chế về mặt chức năng khác nhau xuất hiện ở bất cứ cộng đồng dân cư và bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

Người ta có thể bị khuyết tật về cơ thể, trí tuệ hoặc giác quan. Những khiếm khuyết ấy có thể là lâu dài và cũng có thể là nhất thời. Có nghĩa là từ “disability” giải thích vấn đề “tàn tật” từ góc độ y học và chẩn đoán. Còn “handicap” có nghĩa là thiếu hoặc bị hạn chế những cơ hội để tham gia vào đời sống của cộng đồng một cách bình đẳng như những người khác.

Nó mô tả sự đụng độ giữa người khuyết tật với môi trường sinh hoạt. Mục đích của từ này là muốn nhấn mạnh đến những sự thiếu hoàn chỉnh của môi trường sinh hoạt và trong nhiều hoạt động có tổ chức của xã hội, chẳng hạn như các lĩnh vực thông tin, giao tiếp và giáo dục, sự thiếu hoàn chỉnh ấy đã góp phần làm ngăn cản người khuyết tật được tham gia một cách bình đẳng. Có nghĩa là từ “handicap” giải thích vấn đề “tàn tật” từ góc độ thiếu hoàn thiện của môi trường xã hội. Hai từ “disability” và “handicap” thường được dùng không rõ ràng và nhiều khi lẫn lộn với nhau, vì thiếu mà nhiều khi đã dẫn đến sự dẫn hướng chưa được thích đáng cho phía hoạch định chính sách và thi hành chính sách.

Năm 1980, Tổ chức y tế thế giới đã thông qua sự phân loại trên phạm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vi quốc tế về các khái niệm "impairment" (khiếm khuyết), "disability" (khuyết tật hay tàn tật) và "handicap" (không hội nhập được), nó cho thấy có một sự tiếp cận vấn đề chuẩn xác hơn, nhằm sử dụng được một cách thỏa đáng trong nhiều lĩnh vực như phục hồi chức năng, giáo dục, thống kê, chính sách, lập pháp, điều tra dân số, xã hội học, kinh tế học và nhân học. Những trải nghiệm thu nhận được từ việc thực hiện Chương trình hành động thế giới về người khuyết tật và qua rất nhiều cuộc thảo luận được mở ra trong Thập kỉ người khuyết tật của Liên hiệp quốc (1983-1992) đã khiến cho người ta có được những kiến thức sâu hơn và sự hiểu biết rộng hơn về vấn đề người khuyết tật cùng những từ ngữ được dùng nói trên. Việc sử dụng đồng thời các từ này cho thấy sự cần thiết của việc cần hướng đến cả những nhu cầu cá nhân (như phục hồi chức năng và các trợ giúp kĩ thuật) và cả sự còn thiếu hoàn chỉnh của xã hội (những trở ngại khác nhau khi tham gia vào các hoạt động xã hội). Trước đây trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như của Việt Nam thường sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”.

Theo Tuyên ngôn của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 9/12/1975 thì: Người tàn tật có nghĩa là bất cứ người nào mà không có khả năng tự bảo đảm cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ [26]. Theo Nghị định số 81/CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ Việt Nam về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động người tàn tật. Điều 1 quy định, người tàn tật là “người mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên do tàn tật được hội đồng giám định y khoa xác định” [9]. Theo pháp lệnh về người tàn tật của Việt Nam ban hành ngày 30/7/1998 Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [49].

Tuy nhiên, hiện nay hầu như tất cả các văn bản liên quan đến người khuyết tật đều không sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”. Sau này công ước quốc tế và những văn bản quốc tế đều dùng từ Poeple with disability – Người sống chung với khuyết tật; như một cách nói tránh để giảm sự kỳ thị với người khuyết tật – Luật người khuyết tật Việt Nam được xây dựng sau khi có công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, tiếp thu công ước nên cũng xây dựng và tiếp cận người khuyết tật theo hướng quyền, và nguyện vọng của người khuyết tật – Chứ không theo hướng bảo trợ xã hội như pháp lệnh người tàn tật 1998 – Nên thống nhất sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” Điều 1, Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 quy định: Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ với hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [50]. Theo định nghĩa trong Đạo luật người khuyết tật Hoa Kỳ năm 1990 thì “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”[43, tr. Một người được coi là người khuyết tật nếu đã có một khiếm khuyết nào đó từ trước.

Những khiếm khuyết ấy có thể bao gồm khiếm khuyết về cơ thể, giác quan, nhận thức hoặc trí tuệ. Những người bị rối loạn tâm thần và mắc các loại bệnh kinh niên khác nhau cũng có thể được coi là người khuyết tật. Các khuyết tật có thể xuất hiện trong cuộc đời hoặc có ngay từ lúc sinh ra ở một người nào đó. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ luật xã hội Đức định nghĩa: Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội [43, tr.18] Ở Việt Nam, người khuyết tật được Đảng, Nhà nước quan tâm từ rất sớm.

Tuy vậy, thuật ngữ người khuyết tật mới được sử dụng gần đây với sự ra đời của Luật người khuyết tật năm 2010. Theo đó người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [34, Điều 2, Khoản 1]. Lý do để giải thích cho việc thay đổi thuật ngữ này là việc hiểu bản chất của khuyết tật có thể từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là từ cá nhân, từ xã hội. Nếu dùng từ “tàn tật” thì chỉ tập trung vào sự bất lợi của người khuyết tật đối với mọi người xung quanh, tức là phân biệt họ với những người khác trong xã hội.

Do vậy, xu hướng chung được khuyến nghị là sử dụng thuật ngữ “khuyết tật” thay cho “tàn tật”. Ở Việt Nam khái niệm “Người khuyết tật” đã thay đổi theo từng giai đoạn và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa và lịch sử. Trước năm 2009, thuật ngữ phổ biến để chỉ người khuyết tật là “tàn tật” và quan điểm nhìn nhận phổ biến về người khuyết tật chủ yếu theo xu hướng mô hình từ thiện. Bắt đầu từ năm 2010, thuật ngữ “người khuyết tật” được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “người tàn tật”, điều này thể hiện sự tiến bộ mạnh mẽ trong công tác bảo vệ, giáo dục, chăm sóc người khuyết tật.

Hiện nay tại Việt Nam, thuật ngữ “khuyết tật” được sử dụng với vai trò là thuật ngữ chính thống và phổ biến khi nói về nhóm đối tượng dân cư đặc thù này. Điều này không chỉ có tác dụng tích cực với nhóm người khuyết tật về mặt tinh thần mà 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com còn tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của xã hội nhằm hướng tới những thay đổi mạnh mẽ. Như vậy, tùy từng thời điểm và từng quốc gia mà khái niệm về người khuyết tật có những điểm tương đồng và khác biệt nhất định. Để có khái niệm chung nhất về người khuyết tật nhằm thuận lợi cho việc tìm hiểu nghiên cứu tác giả xin trích dẫn khái niệm trong Giáo trình Luật về người khuyết tật của trường Đại học Luật Hà Nội vào, đây là khái niệm mà tác giả thấy phù hợp, ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa bao quát hết được những đặc điểm cơ bản của người khuyết tật.

Theo đó “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác” [43, tr. Đặc điểm của người khuyết tật Việc xác định và làm rõ đặc điểm của người khuyết tật không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định đúng đối tượng nào là người khuyết tật mà còn có ý nghĩa trong việc xây dựng những quy định của pháp luật mang tính khả thi cao về người khuyết tật, điều chỉnh đúng phạm vi đối tượng là người khuyết tật. Người khuyết tật trước hết cũng là những con người nên họ mang những đặc điểm chung về tâm sinh lý, đặc điểm về kinh tế - xã hội như mọi người khác trong xã hội. Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với những người không khuyết tật và mỗi nhóm khuyết tật khác nhau lại có những nét đặc thù tương đối khác nhau.

 Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật. Đặc điểm về dạng tật Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về phân loại người 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Trợ Giúp Xã Hội Cho Người Khuyết Tật Tại Hà Nội: Thực Tiễn và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và các giải pháp hỗ trợ người khuyết tật tại Hà Nội. Tài liệu này không chỉ nêu rõ những thách thức mà người khuyết tật đang phải đối mặt, mà còn đề xuất các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các chương trình trợ giúp xã hội, cũng như những khuyến nghị để nâng cao hiệu quả của các dịch vụ này.

Để mở rộng kiến thức về các chính sách an sinh xã hội liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ chính sách an sinh xã hội đối với hộ nghèo trên địa bàn huyện nghĩa hưng tỉnh nam định", nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở việt nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến trợ giúp xã hội cho trẻ em. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thạc sĩ pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn thực hiện tại thị xã sa pa tỉnh lào cai" sẽ mang đến những góc nhìn thực tiễn về việc hỗ trợ người khuyết tật tại một địa phương khác, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.