CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.1 Những vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 1.1 Khái niệm, đặc điểm của người khuyết tật Khái niệm người khuyết tật: Người khuyết tật hiện đang là một khái niệm gây rất nhiều tranh cãi ở các quốc gia và cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về người khuyết tật áp dụng chung cho các nước. Giữa các quốc gia có sự khác nhau về quan điểm khuyết tật, những quy định liên quan tới tình trạng và mức độ khuyết tật, cũng như cách sử dụng từ ngữ diễn tả. Hiện nay có hai luồng quan điểm chính về người khuyết tật song song cùng tồn tại đó là quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội. Quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y học cho rằng khuyết tật là hạn chế ở cá nhân, ở chính con người đó mà hầu như không quan tâm tới các yếu tố xã hội.
Ở góc độ này, bản thân người khuyết tật là họ có vấn đề, họ cần được chữa trị để trở thành bình thường. Theo phân loại của tổ chức y tế thế giới có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật. Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết.
Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ. Với quan điểm này, tác giả cho rằng nếu coi người khuyết tật do hạn chế cá nhân ở họ thì sẽ không nhận thấy ảnh hưởng của xã hội đối với tình trạng khiếm khuyết của người khuyết tât nên đôi khi không chú trọng đối với các biện pháp xã hội như cải tổ chính sách, xóa bỏ rào cản xã hội, phúc lợi xã hội,… Cạnh đó trên thế giới tồn tại quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội, những người khuyết tật được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ và phân biệt. Chính xã hội không tốt nên người khuyết tật phải đối mặt với một số sự phân biệt đối xử của cộng đồng xung quanh. Quan điểm này cho rằng vấn đề nằm ở xã hội chứ không phải xuất phát từ bản thân người khuyết tật.
Chính xã hội và chính sách cần phải cải tổ chứ không phải người khuyết tật. Với quan điểm này, 8 quan tâm nhiều đến vấn đề xã hội nhưng lại ít quan tâm tới cá nhân người khuyết tật dẫn đến việc không coi trọng đầu tư, phát triển, cải thiện, phục hồi chức năng, vật lý trị liệu đối với bản thân người khuyết tật. Theo quan điểm của tác giả, cần có sự kết hợp hai quan điểm về người khuyết tật trên. Bởi lẽ người khuyết tật cũng chính là một tế bào trong xã hội khi coi trọng người khuyết tật cũng là coi trọng đến vấn đề xã hội.
Chính sách đối với cá nhân luôn gắn kết với chính sách đối với xã hội do đó việc kết hợp hai luồng quan điểm trên sẽ giúp người khuyết tật được hiểu đúng, đầy đủ và đảm bảo quyền lợi tốt hơn trong xã hội. Từ cách nhìn nhận khác nhau về người khuyết tật cùng với đặc trưng về tình hình kinh tế, xã hội, lịch sử mà các quốc gia có những quy định khác nhau về định nghĩa người khuyết tật. Dưới góc độ khuyết tật cá nhân, Luật nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa có quy định về bảo vệ người khuyết tật năm 1990 có ghi nhận: “Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh học…”1 hay tại Luật người khuyết tật Ấn Độ năm 1995 có định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong, thị lực kém, suy giảm khả năng vận động, chậm phát triển trí óc…2 Dưới góc độ khuyết tật xã hội, khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 ILO về phục hồi chức năng lao động, việc làm của người khuyết tật năm 1983 có quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận”. 3Điều 1 Công ước về quyền người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” Như vậy, dù có ảnh hưởng quan điểm khuyết tật cá nhân hay khuyết tật theo mô hình xã hội, thì khi định nghĩa về người khuyết tật phải phản ánh thực tế người khuyết tật đó có gặp rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người 1 Luật bảo vệ người khuyết tật năm 1990 của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa 2 Luật người khuyết tật Ấn Độ năm 1995 3 Công ước số 159 ILO về phục hồi chức năng lao động, việc làm của người khuyết tật năm 1983 9 khi tham gia hoạt động kinh tế, chính trị xã hội.
đồng thời phải đảm bảo được quyền và trách nhiệm tham gia quan hệ xã hội như các chủ thể khác. Tác giả đồng quan điểm về định nghĩa người khuyết tật được nêu tại Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam của tập thể tác giả Trường Đại học Luật Hà Nội: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác”.4 Đặc điểm người khuyết tật: Người khuyết tật trước hết là những con người nên họ mang những đặc điểm chung về mặt kinh tế – xã hội, đặc điểm tâm sinh lý như mọi người khác trong xã hội. Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên nhóm người khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với nhóm người không khuyết tật và mỗi nhóm người khuyết tật dạng này lại có nét đặc thù tương đối so với nhóm người khuyết tật dạng khác. Về phương diện pháp lý, làm rõ các đặc điểm của người khuyết tật là một trong những cơ sở, căn cứ khoa học tác động đến việc quy định, ban hành, thực thi, áp dụng pháp luật và chính sách với người khuyết tật.
Về góc độ người khuyết tật dưới góc độ dạng tật, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể,… Nhìn chung, dưới góc độ này người khuyết tật có thể bị khiếm khuyết như chân, tay, tai, mặt mũi… do vậy khiếm khuyết các bộ phận cơ thể khác nhau sẽ tạo nên một dạng tật với những đặc điểm đặc thù. Các dạng khuyết tật phổ biến như sau: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác. Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân hình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn Khuyết tật nghe, nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình luật về người khuyết tật, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
10 Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm sơát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường. Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tu duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. Khuyết tật khác: là các tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp nêu trên.
Người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội có đặc điểm: Người khuyết tật hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội. 5Trước hết người khuyết tật là nhóm cư dân đặc biệt phải chịu thiệt thòi về mặt kinh tế – xã hội và nhân khẩu học: Những gia đình có người khuyết tật có xu hướng hoặc là thiếu nhân lực lao động (vì vậy có năng lực sản xuất thấp) hoặc có quá nhiều người sống phụ thuộc (gánh nặng về kinh tế). Học vấn của các thành viên trong những gia đình người khuyết tật thường không cao (chất lượng lao động thấp). Nhiều chủ hộ gia đình lại chính là người khuyết tật có sức khỏe yếu.
Tài sản của gia đình người khuyết tật thường nghèo nàn, thu nhập ở mức thấp – vì vậy, điều kiện sống và sinh hoạt là không tốt, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, sức khỏe, phúc lợi của các thành viên trong gia đình. Ngoài ra, người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên rất khó có việc làm, hầu hết người khuyết tật hoặc chưa bao giờ đi làm hoặc đã từng đi làm nhưng lại bị thất nghiệp. Từ khía cạnh hoạt động xã hội, xuất phát từ những đặc thù từ tâm lý, người khuyết tật bị xếp vào đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong nhóm những người tổn thương, là những người yếu thế trong xã hội, họ tham gia hoạt động xã hội rất hạn chế. khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho họ trong việc tham gia các hoạt động xã hội.
Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với người khuyết tật. 5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật an sinh xã hội, Nxb Tư Pháp, Hà Nội.