Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở việt nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích pháp luật trợ giúp xã hội cho người nhiễm chất độc da cam tại Việt Nam, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu về chất độc da cam và ảnh hưởng của chất độc da cam đến sức khỏe con người

1.3. Tình hình nghiên cứu lí luận pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

1.4. Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thi hành

1.5. Tình hình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

1.6. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.7. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

1.8. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.9. Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

1.10. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM

2.1. Khái quát chung về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.2. Khái niệm chất độc da cam và người nhiễm chất độc da cam

2.3. Khái niệm trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.4. Phân loại trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam. Ý nghĩa của trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.5. Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.6. Khái niệm pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam. Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

2.7. Nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM

3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam

3.2. Thực trạng quy định của pháp luật về trợ giúp xã hội thường xuyên đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.3. Thực trạng quy định của pháp luật về trợ giúp xã hội khẩn cấp đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.4. Thực trạng quy định của pháp luật về chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.5. Thực trạng quy định của pháp luật về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.6. Thực trạng quy định của pháp luật về tổ chức thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.7. Thực trạng quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thực hiện

3.8. Thực trạng quy định của pháp luật về tranh chấp, giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam và thực tiễn thi hành

3.9. Đánh giá thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

3.10. Những kết quả đạt được

3.11. Một số hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại

4. CHƯƠNG 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM

4.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.2. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.3. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.4.1. Về trợ giúp xã hội thường xuyên đối với người nhiễm chất độc da cam

4.4.2. Về trợ giúp xã hội khẩn cấp đối với người nhiễm chất độc da cam

4.4.3. Về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng đối với người nhiễm chất độc da cam

4.4.4. Về chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.4.5. Về tổ chức thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.4.6. Về xử lý vi phạm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.4.7. Về tranh chấp và giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.5. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam

4.6. Đổi mới tổ chức quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.7. Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức về mục đích, ý nghĩa của trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.8. Nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng đối với người nhiễm chất độc da cam

4.9. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tại các trung tâm trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.10. Đẩy mạnh công tác tổ chức thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

4.11. Hoàn thiện khung giám sát, đánh giá, theo dõi kết quả trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ 'Pháp luật trợ giúp xã hội cho người nhiễm chất độc da cam tại Việt Nam' được thực hiện nhằm nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về pháp luật trợ giúp xã hội đối với nhóm người đặc thù này. Chất độc da cam, một loại hóa chất độc hại, đã để lại hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe con người, đặc biệt là những người bị nhiễm. Luận án không chỉ phân tích thực trạng pháp luật hiện hành mà còn đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội. Đặc biệt, luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi cho những người nhiễm chất độc da cam, một nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Tính cấp thiết của đề tài được thể hiện qua thực trạng nghiêm trọng của vấn đề nhiễm chất độc da cam tại Việt Nam. Hậu quả của chất độc này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của những người trực tiếp tiếp xúc mà còn lan rộng đến các thế hệ sau. Theo thống kê, hiện có hàng trăm ngàn nạn nhân và gia đình họ đang phải đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống. Việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật trợ giúp xã hội cho nhóm người này là cần thiết để đảm bảo quyền lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ.

II. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung vào việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây liên quan đến chất độc da cam và pháp luật trợ giúp xã hội. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất độc da cam gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, từ bệnh tật đến di chứng cho các thế hệ sau. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về trợ giúp xã hội cho người nhiễm chất độc da cam vẫn còn nhiều hạn chế. Việc đánh giá tình hình nghiên cứu hiện tại giúp xác định những khoảng trống cần được lấp đầy trong nghiên cứu pháp luật về trợ giúp xã hội.

2.1. Tình hình nghiên cứu về chất độc da cam

Nghiên cứu về chất độc da cam đã được thực hiện từ nhiều góc độ khác nhau, từ y học đến xã hội học. Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chất độc da cam không chỉ gây ra các bệnh lý nghiêm trọng mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống của nạn nhân. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về pháp luật trợ giúp xã hội cho nhóm người này vẫn còn hạn chế, cần có những nghiên cứu sâu hơn để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

III. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện

Chương này phân tích thực trạng pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam tại Việt Nam. Mặc dù đã có một số quy định pháp luật liên quan, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn. Các quy định hiện hành chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi cho nạn nhân, dẫn đến tình trạng nhiều người vẫn chưa nhận được sự trợ giúp cần thiết. Đánh giá thực trạng này là cơ sở để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

3.1. Thực trạng quy định pháp luật

Các quy định pháp luật hiện hành về trợ giúp xã hội cho người nhiễm chất độc da cam còn thiếu tính đồng bộ và chưa được thực thi hiệu quả. Nhiều nạn nhân vẫn chưa được công nhận và hưởng các chế độ trợ giúp xã hội. Việc thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình và đảm bảo quyền lợi cho người nhiễm chất độc da cam.

IV. Đề xuất hoàn thiện pháp luật

Chương cuối cùng của luận án đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội cho người nhiễm chất độc da cam. Các kiến nghị này bao gồm việc xây dựng các quy định pháp luật rõ ràng hơn, tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của nạn nhân. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng để đảm bảo việc thực hiện pháp luật được hiệu quả.

4.1. Kiến nghị về chính sách

Cần xây dựng một chính sách trợ giúp xã hội toàn diện và cụ thể cho người nhiễm chất độc da cam. Chính sách này không chỉ bao gồm các chế độ trợ cấp tài chính mà còn cần có các chương trình hỗ trợ về y tế, giáo dục và đào tạo nghề. Việc thực hiện các chính sách này sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho nạn nhân và gia đình họ, đồng thời thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người nhiễm chất độc da cam ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Một số vấn đề lý luận về pháp luật trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam.

Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với ngƣời nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu về chất độc da cam và ảnh hưởng của chất độc da cam đến sức khỏe con người Trong cuốn “Chất độc da cam dioxin và hệ quả” [79] và “Thảm họa da cam ở Việt Nam” [38] thì CĐDC là một loại thuốc khai hoang diệt cỏ nhằm mục đích làm trụi lá cây, là hỗn hợp chất lỏng màu nâu đỏ, đựng trong các thùng phuy sọc da cam.

Chất độc này bao gồm 4 hóa chất là: 2,4,5-T (2.5-Trichlorophennoxyacetic); 2,4-d (2,4-dichlorophennoxyacetic); cacodylic acid và phicloram.5-T có chứa độc chất dioxin – một hóa chất siêu độc hại, hóa chất bẩn nhất mà con ngƣời từng sản sinh ra. Độc tính này gây tác hại về môi trƣờng và gây rối loạn nhiều hệ gen, hệ enzyme, từ đó dẫn đến rối loạn phát triển các tế bào và tổ chức của cơ thể ngƣời [38, tr. Tác giả Nguyễn Nhƣ Phát, Nguyễn Thị Việt Hƣơng trong cuốn “Trách nhiệm và hậu quả chất da cam/dioxin ở Việt Nam” đã chỉ ra trong vòng 10 năm (1961 - 1971), quân đội Hoa Kỳ đã rải xuống miền Nam hàng triệu lít các CĐHH với hàm lƣợng dioxin rất lớn, trong đó chất da cam đƣợc sử dụng nhiều nhất. Chất này gây quái thai, đột biến gen, gây độc hại với các tế bào, đặc biệt là tế bào não, thận, gan, tim; gây ngộ độc phổi, ung thƣ, gây rối loạn quá trình trao đổi chất trong tế bào và tác động gián tiếp trên bộ máy di truyền tế bào [54, tr.

Trƣơng Quang Đạt trong luận án Tiến sĩ Y học, trƣờng Đại học Y Hà Nội về “Nghiên cứu thực trạng một số bất thường sinh sản ở huyện Phù Cát – Bình Định và thử nghiệm ghi nhận bất thường sinh sản ở cộng đồng” đã tiến hành điều tra xã hội và đƣa ra các thông tin liên quan đến sự phơi nhiễm, các bệnh tật của trẻ em sơ sinh khi có bố, mẹ sinh sống trên vùng bị nhiễm độc. Các thông tin đƣợc phân tích dựa trên các chỉ số y khoa về các bệnh bẩm sinh nhƣ hẻ môi, thần kinh, dị tật mắt, mũi, mặt. Luận án Tiến sĩ Kiến trúc của Lê Thị Bích Thuận về “Các giải pháp không gian kiến trúc đảm bảo tiện nghi cho người tàn tật hòa nhập cộng đồng” đã chỉ ra các dạng tật, các mức độ khuyết tật và nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, trong đó có 9 nguyên nhân là do hậu quả của chất da cam. NNCĐDC có trình độ dân trí thấp, sống phụ thuộc vào gia đình và chính sách trợ cấp của Nhà nƣớc.

Nguyện vọng của họ muốn đƣợc phục hồi chức năng, đƣợc chăm sóc sức khỏe, đƣợc học hành, đƣợc làm việc, đƣợc tiếp cận xã hội, đƣợc đối xử bình thƣờng nhƣ những ngƣời khác trong cộng đồng [69, tr. Luận án Tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Báo đã phân tích nguyên nhân dẫn đến khuyết tật trong đó có nguyên nhân do biến chứng của CĐHH và di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà hậu quả là ngƣời dân bị mắc căn bệnh ung thƣ, tai biến sinh sản, sinh con dị tật, quái thai, chết yểu hoặc bị suy giảm hệ thống miễn dịch. Luận án chỉ ra NNCĐDC là do tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất da cam dẫn đến thế hệ cháu, chắt của họ bị di chứng và khuyết tật; hoặc do ngƣời dân sinh sống trong môi trƣờng bị nhiễm độc bởi chất da cam [3, tr. Luận án còn luận giải những đối tƣợng này cần có chính sách, pháp luật điều chỉnh phù hợp nhằm tạo điều kiện đặc biệt để họ đƣợc tiếp cận và thụ hƣởng quyền con ngƣời và đòi những tội đồ chiến tranh phải bồi thƣờng [3, tr.

Tác giả Văn Thị Huệ trong“Hoạt động thực hiện chính sách đối với người nhiễm chất độc hóa học dioxin, nghiên cứu trường hợp quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội” [41]; Nguyễn Thị Điệp với “Việc thực hiện chính sách ưu đãi cho đối tượng nhiễm chất độc hóa học tại huyện Yên Lập, tỉnh Vĩnh Phúc” [26] và Nguyễn Thị Huyền Trang với “Công tác xã hội đối với nhóm trẻ em bị nhiễm chất độc da cam tại Làng Hữu nghị Việt Nam”[76], các tác giả đã chỉ ra ảnh hƣởng của CĐDC lên sức khỏe con ngƣời, chất độc này phát sinh bệnh tật gây dị dạng, dị tật. Trong đề tài KHCN cấp Nhà nƣớc của Nguyễn Thế Lực về “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chính sách đối với NNCĐDC, đề xuất phương hướng và giải pháp chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện” tác giả cho rằng CĐDC là độc tố chứa dioxin và chiếm tỉ lệ cao (trên 61%) nên rất độc hại. Chất này ít tan trong nƣớc, dễ hòa tan trong mỡ nên khi đƣợc đƣa vào môi trƣờng nó nằm sâu trong đất bởi vậy CĐDC ngấm vào cơ thể ngƣời qua thực phẩm, sữa bằng ba con đƣờng nhƣ ăn uống; qua da và niêm mạc (tiếp xúc trực tiếp) và qua đƣờng hô hấp. Do đó CĐDC gây độc hại trên hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, máu và cơ quan tạo máu, hệ cơ xƣơng, thận, nội tiết, da, hệ miễn dịch, hệ thần kinh, hệ thống sinh sản nên dễ gây ung thƣ và có sự di truyền [52, tr.

10 Trong bài viết “Tác động của Dioxin đối với gia đình Việt Nam – Nạn nhân của chiến tranh sau chiến tranh Việt Nam” [29] và “Đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường do phơi nhiễm với Dioxin trong thực phẩm tại điểm nóng dioxin ở Đà Nẵng” [31] thì chất da cam không có sẵn trong tự nhiên mà do con ngƣời tạo ra, không hòa tan trong nƣớc tinh khiết nhƣng hòa tan trong chất béo, nó tồn lƣu và tích tụ sinh học trong dây chuyền thực phẩm. Chất này đi vào cơ thể ngƣời qua đƣờng tiêu hóa, hô hấp, qua da gây tác hại cho môi trƣờng và ảnh hƣởng lâu dài đến sức khỏe con ngƣời. Chất da cam làm gia tăng các loại bệnh tật nhƣ đột biến gây dị dạng bẩm sinh ở trẻ, giảm khả năng sinh con, các vấn đề về phổi, da [26, tr. Hoàng Bá Thịnh trong “Nạn nhân chất da cam/dioxin ở Việt Nam và nỗi lo về thế hệ tương lai”[64, tr.

90 - 98]; Lê Thị Nhâm Tuyết trong“Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam - Những điều mong muốn” [80, tr. 4-6]; Phạm Hƣơng Thảo và nhóm tác giả trong “Hậu quả xã hội của chất độc da cam ở Việt Nam. Dưới đám mây u ám của sự không hiểu biết” [63, tr. 103-109] chỉ ra di chứng da cam ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời, thậm chí đến thế hệ thứ ba, thứ tƣ.

Các tác giả cho rằng tùy theo năng lực, điều kiện chúng ta có thể giúp đỡ NNCĐDC theo những cách khác nhau. Một số các công trình nƣớc ngoài nghiên cứu về chất da cam và hậu quả của chất da cam. Điển hình cuốn sách “Veterant and Agent Orange” (tạm dịch Cựu chiến binh và chất độc da cam) đã cung cấp bức tranh tổng thể về hỗn hợp chất da cam 2,4 axit dicholorophenoyacetic (viết tắt là 2,4-D), 2,4,5- axit trichlorophenoxyacetic (viết tắt là 2,4,5-T), piclogram và axit cacodylic tạo nên hỗn hợp chất diệt cỏ và là nguyên nhân chính gây ra một số bệnh ung thƣ tuyến tụy, suy giảm thính lực, u ác tính, bệnh tuyến giáp, bệnh hen suyễn, nhồi máu cơ tim, viêm mũi, Parkinson, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa porphyrin, ung thƣ thanh quản, tuyến tiền liệt, ung thƣ phổi…Những căn bệnh này tập trung vào các cựu chiến binh Mỹ tham gia cuộc chiến tại Việt Nam và họ bị phơi nhiễm bởi chất diệt cỏ [131, pp. Young trong “Agent orange exposure and attributed Health effects in Vietnam veterans” [114] (tạm dịch là Phơi nhiễm CĐDC và các ảnh hƣởng đến sức khỏe của cựu chiến binh Việt Nam) trên tạp chí Military Medicine số 176.

Bài viết đánh giá, phân tích tác hại của chất da cam lên sức khỏe 11 con ngƣời. Theo đó những ngƣời tiếp xúc với chất da cam hoặc đi về từ cuộc chiến tranh Việt Nam hầu hết đều mắc các bệnh ung thƣ tuyến tiền liệt, tiểu đƣờng, bệnh Parkinson’s … Luật pháp của quốc gia này quy định khi những cựu chiến binh thực hiện chƣơng trình kiểm tra sức khỏe và xác định là bị khuyết tật hoặc bệnh liên quan đến phơi nhiễm do chất da cam thì đƣợc bồi thƣờng, đƣợc chăm sóc sức khỏe.Crouse trong cuốn sách “The Use and effects of agent orange in Vietnam (tạm dịch là: Việc sử dụng và ảnh hƣởng của chất da cam ở Việt Nam) phân tích hậu quả của chất da cam và các ảnh hƣởng của chất da cam lên sức khỏe con ngƣời và là nguyên nhân phát sinh các bệnh về thần kinh, Hodgkin’s, Non - Hodgkin’s, parkinson’s…Paolo Mocarelli và đồng nghiệp trong“Phơi nhiễm dioxin ở người cha và giới tính của thai nhi” khẳng định những ngƣời đàn ông bị phơi nhiễm CĐDC có xác suất sinh con trai thấp hơn những ngƣời đàn ông không bị phơi nhiễm [132, pp. 1858-1863] và đây là nguyên nhân gây ảnh hƣởng tới việc duy trì nòi giống cho các gia đình. Jason Grotto và Tim Jones trong “Agent range’s lethal legacy: For U., a record of neglect” tạm dịch (Di sản gây chết ngƣời của chất độc da cam: Đối với Hoa Kì, một hồ sơ bỏ bê) khẳng định CĐDC có nguy cơ mắc nhiều bệnh ung thƣ, dị tật bẩm sinh [139].

Bài viết “Agent Orange Zone” của Martha Ann Overland đăng trên Tạp chí Time số tháng 9, 10 năm 2009 cho rằng CĐDC khiến cho những đứa trẻ bị dị tật qua nhiều thế hệ [141].Schlall, BSN, Fache thì các cựu chiến binh sau chiến tranh ở Việt Nam trở về mắc các bệnh ung thƣ đƣờng hô hấp (ung thƣ phổi, thanh quản, khí quản, phế quản) và bệnh đa u tủy (multiple myeloma) [62, tr.Kido thì gây ra rối loạn nội tiết [61, tr. Theo kết quả khảo, có thể thấy CĐDC đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều phƣơng diện nhƣ xã hội, sinh học, y tế…và khi nhìn nhận dƣới góc độ pháp lý thì chƣa có một định nghĩa thống nhất, tổng thể, toàn diện, sâu sắc về CĐDC và những ảnh hƣởng của CĐDC đến sức khỏe con ngƣời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Pháp luật trợ giúp xã hội cho người nhiễm chất độc da cam tại Việt Nam" khám phá các khía cạnh pháp lý liên quan đến việc hỗ trợ người nhiễm chất độc da cam, một vấn đề nhạy cảm và quan trọng trong xã hội Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định pháp luật hiện hành mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hệ thống trợ giúp xã hội cho nhóm đối tượng này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về quyền lợi, chính sách và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó nâng cao nhận thức và hiểu biết về vấn đề này.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Vai trò của pháp luật trong bảo đảm bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay, nơi đề cập đến các chính sách bảo vệ quyền lợi cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Ngoài ra, Bảo vệ quyền trẻ em theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến quyền trẻ em. Cuối cùng, Chính sách pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về các chính sách pháp luật trong bối cảnh an ninh xã hội, liên quan đến việc bảo vệ các nhóm yếu thế trong cộng đồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề pháp lý và xã hội hiện nay.