chương ID .----s- << << ss£Ss£Ss£EsEseEssEssSssExsexserserserserssesse 39 0:10/9)I0 2727. 40 THUC TRANG CONG TÁC HỖ TRỢ SINH KE CHO NGƯỜI KHUYET TAT TẠI XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TAN YEN, TÍNH BAC 2. Thực trạng NKT tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Tình hình chung về NKT và đời sống của NKT tại xã Việt Ngọc.
Hoàn cảnh gia đình cua NKT tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tin BAC Gidng NNtd. Những khó khan trong vấn dé sinh kế của NKT tại xã Việt Ngoc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Nhu cẩu hỗ trợ sinh kế của NKT tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Œi4ïg. 5-5 SE EEE1EEE12112121.
Thực hiện công tac hỗ trợ sinh kế cho NKT tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang .- << << se se ss+sstssesserserserserserssssee 53 2. Quan điểm của chính quyén địa phương về công tác hỗ trợ sinh kế 7/01/2027. Tổ chức thực hiện hỗ trợ sinh kế cho NKT tại địa phương. Đánh giá hiệu quả công tác hỗ trợ sinh kế cho NKT tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Các hiệu quả đã đạt đẨVỢC. E322 3E 221 E£ EEESEEEsrrksrrkrreres 79 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUA HỖ TRỢ SINH KE CHO NGƯỜI KHUYET TAT TẠI XÃ VIỆT NGỌC, HUYỆN TAN YEN, TINH BAC GIANG DƯỚI GÓC NHIN CONG TÁC XÃ HỘI. Phương hướng CHhUØ. Các giải pháp cụ thể của Công tác xã hội đối với NKT tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Giải pháp 1: NVCTXH giúp NKT tiếp cận các cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp, xưởng sản xuất tại địa phương. Giải pháp 2: Nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ sinh kế cho NKT thông qua vai trò kiến nghị, đê xuất các giải pháp, chương trình hỗ trợ, hạn chế được sự trùng lặp cua NVCTXH. Giải pháp 3: NVCTXH tham van về việc làm cho NKT và cán bộ của địa phương nhằm thúc đẩy hiệu quả công tác hỗ trợ sinh kế cho ”/ 2®. Giải pháp 4: Trang bi kiến thức và thực hiện nhiễu hoạt động trợ giúp NKT có thể tự tạo việc làm, tự thành lập các cơ sở sản xuất.
Dự án Công tác xã hội trong hỗ trợ về sinh kế cho NKT tại xã Việt Ngoc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.----< 2s ssessesssesessesee 92 Tiểu kết chương 3:.---- s- s< << ©ss©ss£Ss£SseEsEssEssEsevesexserserserssrssrssrsee 96 KET LUẬN VÀ KHUYEN NGHỊ,. Đối với chính quyên địa phưƠHg. Đối với cộng đồng xã hội. Đối NKT và gia đình.E1E1E re 99 TÀI LIEU THAM KHAO .ccsscsssssssssessessessesssssssssssscsessscssssesssssssssssseeseesees 100 PHU LUC cassssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssssessssesssssssssssssssssess 7 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CTXH Công tác xã hội LĐTB & XH Lao động - thương binh và xã hội NKT Người khuyết tật NVCTXH Nhân viên công tác xã hội TNHH Trách nhiệm hữu hạn DANH MỤC BANG BIEU Bang 1.1: Số liệu co bản về người khuyết tật (tính đến tháng 6/2015).1: Tỷ lệ NKT phân theo đơn vị hành chính cấp thôn.2: Ty lệ NKT phân theo dạng khuyết tật.3: Tỷ lệ NKT từ 15 tuổi trở lên phân theo độ tuôi.4: Tỷ lệ NKT từ 15 tuổi đến 60 tuổi phân theo giới tính.5: Tỷ lệ NKT từ 15 tuổi trở lên phân theo trình độ học vắn.6: Tỷ lệ NKT từ 15 tuổi trở lên phân theo tinh trạng việc làm.7: Tỷ lệ NKT từ 15 tuổi trở lên hiện đang có việc lam phân theoco cau nghé nghiGp 07.
Lý do chọn đề tài Stephan Hawking - một NKT nhưng đồng thời là một nhà khoa học, mộttắm gương thành công đã khiến cho biết bao NKT khác nhìn thấy ánh sáng và tiếp thêm động lực cho chính mình trên con đường tìm kiếm giá trị của bản thân. Ông đã từng nói: “Lời khuyên của tôi dành cho những NKT là: Hãy tập trung vào những việc mà sự khuyết tật không thể ngăn cản bạn làm tot và đừng tiếc nuối những thứ bạn không làm được vì nó. Đừng dé bị khuyết tật cả về thể chất lẫn tỉnh thần ”. Đây là một trong những câu nói thể hiện ý chí quật cường, tinh than bat diệt của một NKT hướng tới những người cùng cảnh ngộ với mình.
Câu nói cũng đã giúp cho biết bao những con người lành lặn và khỏe mạnh khác phải có cái nhìn đúng đắn về NKT cũng như nhìn lại chính bản thân mình. Không một quốc gia hay một dân tộc nào trên thế giới không có NKT. Nói như vậy không có nghĩa NKT là một phần không thể thiếu hay là một tế bào xấu trong xã hội. Mà phải khăng định răng, NKT dù ở bất cứ dạng tật nào, do bất kỳ nguyên nhân gì, ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều là một trong những con người tạo nên xã hội.
Tại Việt Nam hiện nay, chúng ta có thé dé dàng bắt gặp hình ảnh một NKT trên hè phó, trong một số cơ quan, doanh nghiệp, trong một vai cơ sở giáo dục. Chúng ta cũng dễ dàng thấy được hình ảnh một diễn giả, một người truyền cảm hứng, một giảm đốc thành đạt, một tắm gương nôi tiếng, một vận động viên thé thao nhiều thành tích cao là NKT. Với những giá trị, những đóng góp và khả năng của mình, NKT thực sự có một vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc góp phần xây dựng nên một xã hội tốt đẹp, một đất nước giàu mạnh hơn. Tuy vậy, bản thân NKT tại gặp không ít khó khăn ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau như: cơ hội việc làm, tình yêu, hôn nhân đên những vân đê cơ bản như: đi lại, ăn uống, vệ sinh cá nhân.
đều gặp phải không ít trở ngại. Trong đó, tiêu biểu phải kể đến van dé sinh kế của NKT hiện nay. Bản thân NKT đôi khi do trở ngại từ những khiếm khuyết cơ thé mà khả năng thực hiện một số công việc bị hạn chế. Tuy nhiên, theo quy luật bù trừ, khi một con người có khiếm khuyết về bộ phận nào đó trên cơ thé thì một bộ phận, cơ quan khác lại được tăng cường.
Chính điều này khi vận dụng vào vấn đề lao động việc làm được thê hiện rất rõ nét. Người khiếm thị có thé hát hay, nghe âm thanh rất tốt, người khiếm thính có đôi bàn tay vô cùng linh hoạt, vẽ tranh và thêu thùa rất đẹp. Nhưng cơ hội việc làm của họ đôi khi lại không rộng mở do nhiều yếu tô xuất phát từ ngoài khiếm khuyết của cơ thể như: cơ chế, chính sách, quan niệm xã hội. Nhu cầu sinh kế luôn thôi thúc mỗi con người cô gang và tích cực hơn nữa để có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Đây là một nhu cầu cơ bản và hoàn toàn chính đáng đối với tất cả mọi người, giúp đảm bảo có được thu nhập, có được nghề nghiệp phù hợp với khả năng, hướng tới đáp ứng các nhu cầu khác. Hiểu được nhu cầu này của NKT, tác giả nhận thấy rằng việc tiến hành tìm hiểu về lĩnh vực hỗ trợ sinh kế cho đối tượng NKT thực sự là việc làm cần thiết và đúng đắn. Gắn với thực tiễn tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang hiện nay có 134 NKT ở các dạng tật khác nhau. Trong đó, rất it NKT có việc làm ôn định.
Hon nữa, số NKThiện đang trong độ tuổi lao động, có sức khỏe và nhu cầu tham gia lao động tại day rất lớn. Đây thực sự là trăn trở của không chỉ các cán bộ địa phương, cán bộ phụ trách lao động thương binh xã hội mà còn là trăn trở của cả cộng đồng. Từ đó, tác giả đã tiến hành lựa chọn đề tài: “H6 trợ sinh kế cho người khuyết tật tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tinh Bắc Giang” là luận văn tốt nghiệp của mình. Qua đây, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng sinh kériéng về van đê ho trợ việc làmcho NKT cũng như công tac hỗ trợ sinh kế về việc làm cho NKT tại đây và đưa ra những giải pháp dựa trên nền tang công tác xã hội.
Qua dé tài này, tác giả có mong muốn mang đến một cái nhìn mới về NKT trong lĩnh vực việc làm. Khăng định vai trò quan trọng của Công tác xã hội trong việc trợ giúp các đối tượng yếu thế. Hướng toi nâng cao vi thế, vai trò của NKT tại xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Tổng quan van dé nghiên cứu Trước hết, cần khăng định rằng, NKT là một trong những đối tượng đã và đang nhận được sự quan tâm của các cấp, ban, ngành, đoàn thê trong xã hội.
Chúng ta có thé tìm thấy rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo, hội thảo, tài liệu và hoạt động thực tiễn ở nhiều địa phương dé chứng minh cho điều này. Tuy nhiên, đánh giá dưới góc độ khách quan sẽ nhận thấy những mặt tích cực và những điểm cần hoàn thiện hơn của các hoạt động đã được triển khai và những nghiên cứu, tìm hiểu về NKT. Trên thế giới Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về người khuyết tật năm 2002 đã chỉ ra rang NKT chiếm trên 10% dân số thế giới, cuộc sống của người khuyết tật đã phần gặp khó khăn về kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hướng tới cơ hội việc làm bình đăng cho NKT qua hệ thống pháp luật - Tổ chức lao động quốc tế ILO - 2006 và trẻ em tàn tật và quyền của các trẻ em, Vũ Ngọc Bình cũng đã chỉ ra: Trên thế giới hiện nay có hơn 600 triệu người có khiếm khuyết về mặt thể chất, cảm giác, trí tuệ hoặc tâm thần dưới các hình thức khác nhau.
Con số này tương đương với khoảng 10% dân số thế giới. Quốc gia nào cũng có người khuyết tật và hơn 2/3 trong số đó sống tại các nước phát triển. Hàng năm sé có thêm khoảng 10 triệu người khuyết tat, tính trung bình một ngày trên thế giới tăng khoảng 25.000 người (2,5 vạn người) khuyết tật, trong đó có khoảng 2. Báo cáo của cô vấn quốc hội Mỹ về người khuyết tật năm 2013 cho rằng người khuyết tật ở Mỹ chiếm khoảng 15% dân số nước Mỹ, bên cạnh những chính sách trợ giúp của nhà nước cho người khuyết tật về chăm sóc sức khỏe, tạo việc làm họ cũng gặp nhiều rào cản tiếp cận các dịch vụ xã hội như: vui chơi, giải trí, việc làm, giao thông.
Năm 2011, trong một báo cáo của Liên Hợp Quốc (UN) và tổ chức lao động quốc tế ILO cũng đã chỉ rõ rằng có khoăng 75% dân số thế giới (chiếm khoảng 5 tỷ người) không được hưởng các chế độ an sinh xã hội phù hợp.