CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO 1. Những vấn đề lý luận chung 1. Một số khái niệm - Tôn giáo Tôn giáo theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền với cái tột cùng, như gắn bó với Chúa, với Thượng đế hoặc được hiểu là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới hữu hình; giữa cái thiêng liêng với cái trần tục. Theo quan điểm Mác-Xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã hội.
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội tôn giáo phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, như: Tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ tư tưởng tôn giáo. Còn với tư cách là một thực thể, hay một hiện tượng xã hội, tôn giáo thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, được quy định bởi hạ tầng cơ sở xã hội. Cụ thể hơn, tôn giáo ra đời từ 3 nguồn gốc: Kinh tế - xã hội, nhận thức và tâm lý. Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáo bao gồm cả yếu tố vật chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: Ý thức, nghi lễ, luật lệ và tổ chức.Mác đã khẳng định rằng: “Con người sáng tạo ra tôn giáo”, “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là sự biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy.
Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [16]. Từ điển Tiếng việt định nghĩa, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận của con người, con người phải phục tùng và tôn thờ [54]. Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 khẳng định tôn giáo là niềm tin của con 10 người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức [3, tr.
- Hoạt động tôn giáo Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo [3, tr. - Tổ chức tôn giáo Tổ chức tôn giáo là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc; có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật. Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo [3, tr. - Cơ sở tôn giáo Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo [3, tr.
Khái niệm chính sách tôn giáo, thực hiện chính sách tôn giáo - Khái niệm chính sách tôn giáo: Chính sách (policy) là những hướng dẫn, phương pháp, thủ tục, luật lệ, biểu mẫu cụ thể và những công việc hành chính được thiết lập để hỗ trợ và thúc đẩy công việc hướng tới các mục tiêu đề ra. Chính sách công (public policy) là hệ thống những hành động có chủ đích, mang tính quyền lực Nhà nước, được ban hành theo những trình tự, thủ tục nhất định, nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, hay thúc đẩy các giá trị ưu tiên. Chính sách công là một trong các công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lí kinh tế - xã hội. Thông qua các chính sách công nhằm thực hiện 11 mục tiêu tối cao là xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển. Chính sách công là chính sách có bản chất thuộc về chính trị. Quá trình ra quyết định chính sách là một quá trình chính trị. Chính sách công được làm ra bởi Nhà nước.
Điều này có nghĩa Nhà nước là chủ thể có thẩm quyền quyết định ban hành chính sách công, với những nguồn lực công để đảm bảo chính sách được làm ra theo cách tốt nhất có thể, và thực thi sao cho hiệu lực, hiệu quả. Chính sách tôn giáo là chính sách công nói về hành động ứng xử của Nhà nước liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm tác động, định hướng, điều chỉnh các hoạt động của tổ chức, cá nhân theo chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo. Như vậy có thể hiểu, chính sách tôn giáo là quá trình dùng quyền lực Nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình tôn giáo và hành vi, hoạt động tôn giáo của các tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu của chủ thể quản lý. - Khái niệm thực hiện chính sách tôn giáo Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Thực hiện chính sách tôn giáo là quá trình đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo đi vào cuộc sống, qua đó đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của một bộ phận nhân dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của đồng bào các tôn giáo và mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo Xây dựng, hoạch định được chính sách tôn giáo đúng là quan trọng nhưng việc thực hiện đúng chính sách tôn giáo còn quan trọng hơn. Có chính sách 12 tôn giáo đúng nhưng không tổ chức thực hiện được trên thực tế thì cũng trở thành vô nghĩa. Chính sách tôn giáo của Nhà nước thực hiện không đúng và đầy đủ thì sẽ dẫn đến sự thiếu niềm tin, bất mãn và chống đối của các chức sắc và tín đồ của tôn giáo, gây bất lợi về mặt chính trị, xã hội, gây khó khăn cho công tác quản lý của Nhà nước. Thực tiễn thực hiện chính sách tôn giáo mới biết được chính sách tôn giáo có đúng và phù hợp hay không, có đi vào cuộc sống hay không.
Quá trình thực hiện chính sách tôn giáo với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và nguyện vọng của tín đồ tôn giáo mà trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách tôn giáo chưa phát sinh hoặc đã phát sinh chưa được nhận thấy. Sau khi thực hiện chính sách tôn giáo thì việc phân tích đánh giá chính sách tôn giáo mới có cơ sở đầy đủ, có sức thuyết phục. Việc đưa chính sách tôn giáo vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp, chịu sự tác động của một loạt các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở cũng giúp cho các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách. Tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo có tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt cần phải quan tâm đến khâu thực hiện chính sách tôn giáo.
Thực tế thời gian qua, nhiều chính sách tôn giáo chúng ta đã tổ chức thực hiện tốt, nhưng vẫn còn một số chính sách liên quan đến tôn giáo được thực hiện chưa tốt gây bức xúc dẫn đến sự khiếu nại của các chức sắc và tín đồ tôn giáo. Chính sách về tôn giáo là chính sách có tính đặc thù, phức tạp và nhạy cảm, vì vậy cần phải có những giải pháp thích hợp, đảm bảo hiệu quả, hiệu lực của chính sách tôn giáo. Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam 1. Quan điểm của Đảng về tôn giáo ở Việt Nam Hiện nay trên thế giới, xu thế của các tôn giáo là tiếp tục thích nghi, điều chỉnh và mở rộng ảnh hưởng.
Tình hình tôn giáo đã và đang có nhiều diễn biến hết sức phức tạp. Các quốc gia đã tập trung ưu tiên cho việc hoạch định và tổ chức 13 thực hiện chính sách đối với tôn giáo nhằm đảm bảo cho sự ổn định chính trị của đất nước mình. Ở Việt Nam, từ khi Đảng Cộng sản khẳng định vai trò lãnh đạo cách mạng đã luôn thực hiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Nhờ đó, sự đoàn kết giữa những người có và không có tôn giáo và giữa các tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố.
Ngày nay, đất nước ta đã bước sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, bùng nổ thông tin, đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới tư duy, quan điểm về tín ngưỡng, tôn giáo sao cho phù hợp với tình hình mới, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của Đảng ta về tôn giáo được xây dựng cơ bản dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo; một mặt căn cứ vào tình hình quốc tế, đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam và yêu cầu của cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể với tư tưởng xuyên suốt và nhất quán của Đảng ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc; một mặt, tất cả mọi người kể cả có tôn giáo hay không có tôn giáo cũng cần phải đề cao cảnh giác với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng.