phần mở đầu đã khẳng định: Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là một vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó cho thấy Đảng, Nhà nước Việt Nam đặt vai trò, vị trí của công tác tôn giáo thiết yếu như thế nào trong tiến trình cách mạng. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan điểm, chính sách đúng đắn, tập hợp chức sắc, tín đồ các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sức mạnh nhằm hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo dân tộc Việt Nam thực hiện cuộc cách mạng giải phóng đất nước, đưa dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước hết kế thừa truyền thống và những bài học kinh nghiệm ứng xử với tôn giáo 11 của cha ông để lại, đồng thời là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
“Trong cách mạng dân tộc, dân chủ, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân kháng chiến thắng lợi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho đất nước”2. Ngày 30/4/1975, Sài Gòn giải phóng, đất nước độc lập, thống nhất, Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, cả nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trước thời cơ và vận hội mới, Đảng, Nhà nước Việt Nam sau hơn 10 năm đất nước thống nhất đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới quan điểm, chính sách đối với tôn giáo. Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước Đổi mới (1975 -1990) Công cuộc Đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam được bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986).
Do vậy, năm 1986 được tính là khởi điểm của công cuộc Đổi mới. Song với tôn giáo, đổi mới quan điểm, chính sách tôn giáo được tính vào thời điểm Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 24/NQ-TW Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới ngày 16/10/1990, tức là 4 năm sau Đại hội VI. Vì vậy, Báo cáo Chính trị các kỳ Đại hội Đảng IV, V, VI chưa thấy thể hiện đổi mới quan điểm, chính sách đối với tôn giáo. Cả ba kỳ Đại hội, Báo cáo Chính trị, phần tôn giáo nhìn chung có kết cấu theo các nội dung như sau: - Tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, tôn trọng quyền theo đạo hoặc không theo đạo của mọi công dân, đối xử bình đẳng về mặt pháp luật với các tôn giáo.
- Đoàn kết các tôn giáo để xây dựng, phát triển đất nước. - Chăm lo, giúp đỡ đồng bào theo các tôn giáo xây dựng cuộc sống mới. 12 - Cảnh giác, kiên quyết kịp thời chống mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo phá hoại Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Báo cáo Chính trị Đại hội IV (1976) do là Đại hội đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước nên Đảng nhấn mạnh đến tôn giáo ở Miền Nam, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào có đạo cũng như không có đạo ở vùng mới giải phóng, giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, kiên quyết đập tan những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của bọn đế quốc và bọn phản động núp trong tôn giáo.
Nghị quyết 40-NQ/TW về công tác tôn giáo Nghị quyết có tên là Nghị quyết của Ban Bí thư về công tác đối với các tôn giáo trong tình hình mới, ban hành ngày 01/10/19814. Đây là Nghị quyết để lại dấu ấn trước Đổi mới. Bố cục của Nghị quyết gồm 3 phần: Phần thứ nhất: Tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo đối với các tôn giáo trong thời gian qua. Phần thứ hai: Chủ trương, chính sách của Đảng đối với các tôn giáo trong tình hình mới.
Phần thứ ba: Về lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện. Phần thứ nhất gồm hai nội dung: Nhận định về tình hình từng tôn giáo cụ thể; Thành tựu và những thiếu sót của các cấp ủy đảng và các ngành có nhiệm vụ chính trị đối với công tác tôn giáo. Phần nhận định về tình hình từng tôn giáo là sát hợp, cụ thể, đánh giá, ghi nhận những mặt tích cực, tiên tiến đạt được của hàng ngũ chức sắc, nhà tu hành, tín đồ của đất nước. Nghị quyết cũng đã “điểm huyệt” những tiêu cực đang hiện diện ở từng tôn giáo cụ thể.
Ví dụ, Nghị quyết nhấn mạnh đến Công giáo ở Miền Nam: “Trình độ giác ngộ của giáo dân còn thấp, nhận thức về chủ nghĩa xã hội, về âm mưu của địch lợi dụng tôn giáo còn nhiều mơ hồ. Vì bị tư tưởng “chống cộng” đầu độc lâu ngày”. Với Phật giáo, “Giáo hội Phật giáo Ản Quang đã được cải tạo một bước. Tuy nhiên cuộc đấu tranh chống lại bọn phản động để thống nhất Phật giáo và xóa bỏ Giáo hội Phật giáo thuộc phái Ản Quang còn diễn ra phức 13 tạp”.
Đối với Phật giáo Hòa Hảo, “Đã xóa bỏ hệ thống chính trị phản động và trở lại có hệ thống tổ chức như lúc đầu, nhưng bọn phản động. vẫn còn lén lút hoạt động, nhen nhóm các tổ chức phản cách mạng và tìm cách củng cố tín ngưỡng cho tín đồ để nắm quần chúng”. Phần Đánh giá thành tựu và thiếu sót của các cấp ủy đảng và các ngành có nhiệm vụ chính trị đối với công tác tôn giáo, sau khi nêu một số kết quả đạt được, Nghị quyết chỉ ra những thiếu sót về công tác tuyên truyền về việc thiếu chặt chẽ trong quản lý tôn giáo. Đặc biệt Nghị quyết chỉ rõ: “Mặt khác lại có khuynh hướng muốn xóa nhanh tôn giáo một cách chủ quan bằng biện pháp hành chính dẫn đến những hành động vi phạm chính sách tôn giáo, trong đó có những hành động vi phạm thô bạo”.
Nguyên nhân của những thiếu sót được Nghị quyết nhấn mạnh: “Cán bộ các cấp, các ngành chưa nhận thức sâu sắc về vị trí và tầm quan trọng của công tác đối với tôn giáo, về âm mưu của đế quốc và bọn phản động lợi dụng tôn giáo”. Và “Các ngành, các đoàn thể chưa đề cao trách nhiệm đối với công tác tôn giáo. Bộ máy tôn giáo vận từ Trung ương đến cơ sở đều yếu hoặc quá yếu không đủ sức nghiên cứu và giúp cấp ủy Đảng chỉ đạo”. Trên cơ sở nhìn nhận, đánh giá tình hình tôn giáo nói chung, tình hình từng tôn giáo cụ thể nói riêng, Nghị quyết đề ra chủ trương chính sách chung và chủ trương, chính sách đối với từng tôn giáo theo hướng vừa cụ thể nhằm đáp ứng tình hình thực tế tôn giáo đang diễn ra lúc bấy giờ vừa đề ra chủ trương chính sách lâu dài.
Về chính sách chung: Các hoạt động tôn giáo bình thường được tiến hành theo chính sách của Nhà nước đã quy định; Chức sắc, nhà tu hành trong các tôn giáo được đi lại hoạt động tôn giáo trong phạm vi quyền hạn họ phụ trách; Vùng kinh tế mới có đông giáo dân được phép xây nhà thờ, linh mục được đến đó làm lễ cho giáo dân; Các cơ sở tôn giáo cần được tôn trọng. Nếu 14 vay mượn phải thương lượng, thuyết phục với tôn giáo. Những cơ sở tôn giáo nguyện hiến cho chính quyền thì phải sử dụng vào mục đích công cộng; Nhà nước đồng ý cho các tôn giáo được mở trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo; Tôn trọng hoạt động đối ngoại của các tôn giáo, chẳng hạn như quan hệ giữa Công giáo Việt Nam với Vatican. Về chính sách cụ thể: Với Phật giáo là biện pháp đối với Giáo hội Phật giáo phái Ản Quang, là “giúp đỡ ban vận động Phật giáo Việt Nam thành lập một tổ chức chung cho Phật giáo cả nước theo phương hướng đi với dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Với Công giáo là chính sách đối với dòng tu, với hội đoàn, là hướng tôn giáo này gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Với Cao Đài, không thống nhất các phái, xóa bỏ cầu cơ; đấu tranh, trấn áp làm tan rã nhóm phản động trong phái Cao Đài Tây Ninh. Với Phật giáo Hòa Hảo “để tồn tại ở địa phương, tôn trọng quyền thờ cúng của tín đồ ở từng gia đình”. Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Nhà nước qua Nghị định 297-CP của Hội đồng Chính phủ Hơn hai năm sau ngày đất nước thống nhất, ngày 11/11/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 279-CP Về một số chính sách đối với tôn giáo5.
Về sau, Nghị quyết được gọi là Nghị định bởi những nội dung mà nó đặt ra. Phần mở đầu Nghị định nêu ra 5 nguyên tắc cơ bản trong chính sách tôn giáo. Nội dung của 5 nguyên tắc về cơ bản thể hiện quan điểm chính sách của Đảng được đề ra trong Báo cáo Chính trị, phần tôn giáo. Điểm mới của Nghị định thể hiện ở 6 chính sách cụ thể đối với công tác tôn giáo.
Trước hết là việc phân cấp quản lý các hoạt động tôn giáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo hoạt động thuận tiện; Là chính sách đối với kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội của các tôn giáo. Đây là thời kỳ ruộng đất có vai trò hết sức quan trọng đối với tôn giáo. Cuộc sống của các nhà tu hành và những hoạt động tôn giáo chủ yếu dựa vào nguồn thu hoa lợi từ ruộng đất. Vì vậy, Nghị 15 định có những quy định rõ ràng với tinh thần tạo điều kiện để các tôn giáo có nguồn thu nhập cao và ổn định.
Việc cải tạo công nghiệp, tư bản tư doanh ở Miền Nam nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh có tính đến việc “chiếu cố tôn giáo”. Bởi vì ở Miền Nam trước giải phóng, một vài tôn giáo có những cơ sở kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của tôn giáo ở Việt Nam là có mối quan hệ với các tổ chức tôn giáo ở nước ngoài. Đất nước thống nhất, quan hệ đối ngoại trên trường quốc tế, trong đó có tôn giáo, ngày càng trở nên nhộn nhịp.
Vì vậy, Nghị định dành chính sách thứ 6 quy định quan hệ quốc tế của các tôn giáo. Dù những quy định trong Nghị định 297-CP chưa thật đầy đủ, có phần quy định còn chung chung, nhưng Nghị định bước đầu tạo cơ sở cho việc quản lý nhà nước về các hoạt động tôn giáo bằng luật pháp, mở đầu cho những nghị định tiếp theo.