Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở CAO BẰNG HIỆN NAY 1. Một số vấn đề lý luận chung 1. Khái niệm chính sách công Nói đến chính sách tôn giáo, chúng ta phải nói đến các công trình nghiên cứu về chính sách công, bởi về bản chất chính sách tôn giáo là chính sách công. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các học giả trong và ngoài nước về chính sách công.
Theo tác giả Thomas Dye (1972): Chính sách công là bất kỳ những gì Nhà nước lựa chọn làm hay không làm. Tác giả William Jenkins (1978) lại cho rằng: Chính sách công là tập hợp các quyết định liên quan với nhau do một hoặc một nhóm nhà hoạt động chính trị ban hành, liên quan tới lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền. Nguyễn Hữu Hải đưa ra khái niệm chính sách công: Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội. Đỗ Phú Hải định nghĩa về chính sách công ở Việt Nam như sau: Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để lựa chọn mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền.
Tác giả Văn Tất Thu, trong bài ''Bản chất, vai trò của chính sách công'' đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước điện tử, đăng ngày 27/01/2017 cho rằng: "Chính sách công được hoạch định bởi đảng chính trị nhưng do chính phủ xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện. Bản chất của chính sách công là 11 Luan van công cụ để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện các hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào hành vi xã hội trong quá trình phát triển thiệp vào mọi hành vi xã hội trong quá trình phát triển" [49]. Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng: Chính sách công là hoạt động mà Chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện để điều hoà các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. Tóm lại từ các khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về chính sách công như sau: Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng.
Khái niệm thực hiện chính sách công Như chúng ta đã biết, thực hiện chính sách công là một giai đoạn của chu trình chính sách công. Thực hiện chính sách có vai trò quan trọng và quyết định cho chính sách công trở thành hiện thực trong đời sống sau khi được Nhà nước ban hành. Có nhiều định nghĩa về thực hiện chính sách công. Tác giả Nguyễn Khắc Bình cho rằng: Thực hiện chính sách công là quá trình vận động, thực hiện ý chí của Nhà nước trong chính sách thành hiện thực thông qua các cơ chế quản lý, các giải pháp với các đối tượng nhằm đạt mục tiêu đã xác định để thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng.
Khái niệm chính sách tôn giáo, thực hiện chính sách tôn giáo Ở Việt Nam trước đây, khái niệm về chính sách tôn giáo chưa có nhiều, nó chỉ xuất hiện trong các giáo trình về chủ nghĩa xã hội khoa học, phần bàn về tôn giáo. Đến năm 1990, trong không khí chung của công cuộc đổi mới đất nước Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã ban hành Nghị quyết số 24 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Nghị quyết 24 đã đánh dấu sự đổi mới của Đảng ta trong nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo. Từ sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24, khái 12 Luan van niệm chính sách tôn giáo xuất hiện nhiều hơn trong các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam về tôn giáo như Đặng Nghiêm Vạn, Phạm Xuân Nam, Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Đức Lữ. Trong cuốn Tìm hiểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Đức Lữ, tác giả đã nhìn nhận chính sách tôn giáo là "phương tiện, công cụ" của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, trong đó quản lý nhà nước với hoạt động tôn giáo được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh hướng các quy trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể quản lý.
Theo nghĩa hẹp, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật [31, tr. Chính sách tôn giáo của Việt Nam ra đời khá muộn, đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn, có thể kết luận rằng, chính sách tôn giáo thực sự chỉ ra đời và được hoàn thiện trong những thập kỷ gần đây như là một trong những thành tựu của khoa học chính sách [31, tr.59] Nội dung của chính sách tôn giáo: Chính sách tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu thực hiện nguyên tắc, đường lối, quan điểm của đảng cầm quyền và nguyên tắc Hiến định: Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; có quyền theo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo. Vì vậy, chính sách tôn giáo của Việt Nam liên quan đến các vấn đề sau: Đảm bảo và bảo hộ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của mọi người; bình đẳng trước pháp luật giữa người theo tôn giáo và không theo tôn 13 Luan van giáo; đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào có tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giúp các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, đồng hành cùng dân tộc, sống "tốt đời đẹp đạo", phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; phát huy vai trò các tôn giáo tham gia quản lý xã hội, thực hiện xã hội hóa các lĩnh vực mà các tôn giáo có thế mạnh: Chính sách an sinh, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.; các quy định pháp luật về tổ chức, sinh hoạt, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng; đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; chính sách an sinh vùng đồng bào tôn giáo.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu, theo nghĩa rộng: Chính sách tôn giáo ở Việt Nam là tổng thể các quy định, quy tắc xử sự chung, các biện pháp trên các lĩnh vực do Đảng, Nhà nước ban hành nhằm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc, làm cho đồng bào có đạo được đảm bảo an sinh sống tốt đời đẹp đạo, các hoạt động tôn giáo được quản lý, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước, hội nhập quốc tế. Theo nghĩa hẹp, chúng ta có thể định nghĩa: Chính sách tôn giáo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổng thể những quy phạm pháp luật, các chương trình hành động, các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. của Nhà nước, nhằm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc, làm cho đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo an sinh, sống tốt đời đẹp đạo, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được quản lý, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển đất nước, hội nhập quốc tế. Đặc điểm chính sách tôn giáo của Việt Nam: 14 Luan van Thứ nhất, chính sách tôn giáo của Việt Nam chịu sự tác động, chi phối bởi các điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Việt Nam; Thứ hai, đối tượng hưởng thụ chính sách tôn giáo là đồng bào có đạo, là những nhóm xã hội đặc thù, liên kết với nhau trên cơ sở niềm tin tôn giáo.
Do tính đa dạng của các tôn giáo, tín ngưỡng nên đồng bào có đạo cũng rất đa dạng về niềm tin, sinh hoạt tôn giáo; Đồng bào các tôn giáo có các mối quan hệ tôn giáo không chỉ trong phạm vi địa phương, quốc gia mà còn có cả quan hệ quốc tế, chịu sự chi phối không chỉ của pháp luật mà còn chịu sự chi phối về giáo luật, giáo hội có tính quốc tế, có những giáo luật và sinh hoạt tôn giáo khác biệt với đời sống thế tục nói chung của Nhà nước; Thứ ba, chính sách tôn giáo của Việt Nam vừa có tính phổ quát, hội nhập, tương thích với các quy tắc, thông lệ chung của thế giới, vừa có những quy định, quy tắc có tính dân tộc. Có chính sách ban hành áp dụng chung đối với tất cả các tôn giáo, có chính sách áp dụng đối với một tôn giáo cụ thể , có loại chính sách không áp dụng đối với các tổ chức và cơ sở tôn giáo; chịu sự tác động, chi phối bởi đặc trưng của hệ thống chính trị nước ta, trong đó công tác tôn giáo (bao gồm việc xây dựng, hoạch định chính sách tôn giáo) được xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngoài việc các cơ quan lãnh đạo của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban bí thư) ban hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết, kết luận, thông báo.